| Thông điệp: |
| MỘT CÁI QUƠ TAY CŨNG THUỘC VỀ QUÁ KHỨ. HẪY BẮT ĐẦU NGAY HÔM NAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ CHÚNG TA CÙNG TẠO NHỮNG QUÁ KHỨ , TƯƠNG LAI THẬT ĐẸP VỚI NHAU NHÉ. »»--(¯`° DIỄN ĐÀN Y KHOA ĐĂK LĂK°´¯)--»» Trước tiên BQT xin gửi lời chào đến tấc cả các bạn.Cảm ơn các bạn đã dành chút thời gian để tham gia, học hỏi, trao đổi kiến thức và xin chúc các bạn có một ngày may mắn, và nhiều vui vẻ. Diễn đàn y khoa ra đời vì mục đích giao lưu, kết bạn, học hỏi, quan tâm, chia sẽ và giúp đỡ bằng tận đáy lòng mình, mà nhất là luôn duy trì trên tinh thần học hỏi để tình cảm ấy dù ngày tháng có trôi qua. Tuổi già răng rụng tóc bạc, vẩn luôn nhớ đến nhau .^_^. hãy giúp chúng tôi xây dựng diễn đàn y khoa phát triển để làm cầu nối với nhau. Sử dụng firefox để đăng nhập dễ dàng hơn ! nếu có thắc mắc xin liên hệ trực tiếp Facbook: https://www.facebook.com/DienDanYKhoaDL forum: http://ykhoadl.tk Email: nguyenhuutuanbmt@gmail.com SĐT : - 0979464642 Thay mặt diễn đàn xin chân thành cảm ơn!!! |
| Loãng Xương ( Cốt Cực ) | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: Jan 5 2017, 10:21 PM (7 Views) | |
huutuanbmt
|
Jan 5 2017, 10:21 PM Post #1 |
|
Loãng xương là hiện tượng tăng phần xốp của xương do giảm số lượng tổ chức xương, giảm trọng lượng của một đơn vị thể tích, là hậu quả của việc suy giảm các khung protein và lượng calci gắn với các khung này. Theo Đông Y biểu hiện của loãng xương cũng được mô tả trong phạm vi chứng hư lao, là tên gọi chung của cả ngũ lao thất thương và lục cực. Bệnh chứng này được nêu trong sách Nạn kinh và định cách điều trị. Sách Kim quỹ yếu lược đem chứng này thành ra một thiên riêng, viết thêm về cách phân biệt mạch, chứng và phương dược điều trị. Đến thời đại Kim nguyên thì Lý Đông Viên và Chu Đan Khê có thêm ý kiến về chứng lao quyện nội thương, Đông Viên sở trường dùng thuốc cam ôn để bổ trung khí và Đan Khê giỏi về thuốc tư âm để giáng hỏa. Sau đó các đời sau như Nguyên, Minh, Thanh đều có sách vở nói đến bệnh lý này. Theo sách Nội kinh: ngũ lao là nhìn lâu hại huyết, nằm lâu hại khí, ngồi lâu hại thịt, đứng lâu hại xương, đi lâu hại gân (còn gọi là tâm lao, phế lao, tỳ lao, thận lao, can lao). Thất thương là ăn no quá hại tỳ; giận quá hại can; gắng sức, mang nặng quá, ngồi lâu chỗ đất ướt tổn thương thận; để thân thể bị lạnh tổn thương phế; buồn rầu lo nghĩ tổn thương tâm; mưa gió rét nắng thì tổn thương hình thể; khiếp sợ quá không tiết chế được thì tổn thương ý chí. Lục cực là khí cực, huyết cực, cân cực, cơ nhục cực, cốt cực, tinh cực. Như vậy, loãng xương là một trong các bệnh lý thuộc chứng hư lao, đó là thận lao hay cốt cực. Trên lâm sàng khi điều trị thường gặp các thể bệnh sau: A. THẬN DƯƠNG HƯ * Chứng hậu: Chủ yếu là đau vùng lưng, thắt lưng. Cảm giác đau mỏi, không có lực, lạnh vùng lưng, thắt lưng. Gù cong vùng thắt lưng. Sợ lạnh, chi lạnh, các khớp tứ chi biến dạng, hoạt động hạn chế. Lưỡi bè to, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch trầm tế. * Biện chứng: Ở người già, nam trên 64 tuổi, nữ đến 49 tuổi thiên quý kiệt,tiên thiên bất túc lại thêm không chú ý bảo dưỡng làm hậu thiên thất dưỡng hoặc phòng dục quá độ làm tổn thương chân âm, nguyên dương dẫn đến tinh huyết bất túc, thận dương suy yếu không thể sinh tủy mạnh cốt từ đó mà gây bệnh. Tinh khí của Thận bất túc nên chủ yếu đau vùng lưng, thắt lưng. Nguyên khí của thận bất túc, mệnh môn hoả suy, âm hàn thịnh ở trong gây nên lạnh vùng lưng, thắt lưng. Thận dương hư, dương khí suy vi, lực vận hành của khí kém nên không vận chuyển được ra ngoài cơ biểu, tứ chi để ôn ấm nuôi dưỡng huyết mạch nên bệnh nhân Sợ lạnh, chân tay lạnh. Thận dương hư tổn nên tinh huyết ở Thận bất túc, cân cốt không được nuôi dưỡng nên các khớp tứ chi biến dang. Mặt khác, dương khí không vận chuyển ôn ấm được tứ chi nên hàn ẩm ứ đọng làm hạn chế vận động khớp ở tứ chi. Thận dương hư không khí hoá được thuỷ dịch, thuỷ thấp ứ đọng trong cơ thể ngấm ngầm ra lưỡi nên lưỡi bè to. Dương hư sinh hàn nên Rêu lưỡi trắng mỏng. Thận dương hư, khí chân dương hao tổn không tụ lại thành tinh. Thận tinh khuy tổn nên mạch trầm tế. Luận trị: Thận dương hư: Ôn thận ích tuỷ. * Pháp: ôn thận ích tuỷ. * Phương: Bát vị hoàn: Thục địa 320g, Hoài sơn 160g, Nhục quế 40g, Sơn thù 160g, Bạch linh 120g, Phụ tử 40g, Đan bì 120g, Trạch tả 120g Tán bột mịn làm hoàn uống 8-12g/ lần x 2-3 lần /ngày với nước ấm hoặc nước muối nhạt hoặc dùng làm thang sắc ngày 1 thang chia 2 lần. * Châm bổ, ôn châm các huyệt: phục lưu, huyền chung, giáp tích L2-S1, thận du, đại trường du, mệnh môn. Thời gian 20-30'/lần x1-2 lần /ngày. Đau vùng mông thêm trật biên. Đau vùng thắt lưng lan xuống mặt sau đùi cẳng chân thêm trật biên, thừa phù, ủy trung, thừa sơn. Đau vùng cùng cụt thêm bát liêu. Nhĩ châm: giao cảm, thận, chi trên, chi dưới, thời gian 20-30'/lần x 1-2 lần/ngày. * XBBH vùng bị đau, với loãng xương nặng ko nên thực hiện các động tác vận động cột sống vì dễ gây tai biến. * Khí công dưỡng sinh: sử dụng các bài luyện thở, luyện hình thể để nâng cao sức khỏe, giảm các tai biến, hạn chế sự tiến triển của bệnh. 20-30'/lần, 1-2 lần/ngày. B. THẬN ÂM HƯ * Chứng hậu: Lưng và tứ chi đau mỏi. Cốt chưng, triều nhiệt; Hoa mắt chóng mặt, ù tai; ngũ tâm phiền nhiệt. Hồi hộp, trống ngực, có thể đau tức ngực. Chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch huyền vi sác. * Biện chứng: Ở người già, nam trên 64 tuổi, nữ trên 49 tuổi thiên quý kiệt, tiên thiên bất túc lại thêm không chú ý bảo dưỡng làm hậu thiên thất dưỡng hoặc phòng dục quá độ làm tổn thương chân âm, nguyên dương dẫn đến tinh huyết bất túc, ngũ tạng hư yếu. Tinh khí của ngũ tạng đưa đến tàng chứa ở Thận giảm sút dẫn tới tinh khuy dịch kiệt, hư hoả nội sinh thiêu đốt Thận làm Thận âm hư. Tinh khí của Thận bất túc không nuôi dưỡng được xương cốt nên Lưng và tứ chi đau mỏi. Thận âm hư sinh nội nhiệt biểu hiện ra cốt trưng, triều nhiệt; Ngũ tâm phiền nhiệt; Lưỡi đỏ. ít rêu, Mạch sác. Thận âm hư, nhiệt trưng đốt tân dịch làm tân dịch hao tổn. Thuỷ dịch không đầy đủ mối quan hệ tương giao Thận thuỷ - Tâm hoả bị phá vỡ khiến Tâm hoả động mà gây ra Hồi hộp. trống ngực, có thể đau tức ngực. Thận âm hư không tư dưỡng được Can âm, âm không đủ tiềm dương làm Can dương vượng lên gây Hoa mắt, chóng mặt, ù tai, mạch huyền. Tinh huyết bất túc nên mạch vi. * Pháp: Tư bổ thận âm. * Phương: Lục vị địa hoàng hoàn: Thục 320g, Hoài sơn 160g, Sơn thù 160g, Đan bì 120g, Trạch tả 120g, Phục linh 120g. Tán mịn làm hoàn, uống 8-12g/lần x 2-3 lần/ngày với nước muối nhạt hoặc nước nguội. Hoặc làm thang ngày 1 thang chia 2 lần. * Châm bổ: thái khê, tam âm giao, huyền chung, giáp tích L2-S1, thận du, đại trường du, yêu nhãn. Thời gian 20-30'/lần x 1-2 lần /ngày. Đau vùng mông thêm trật biên. Đau vùng thắt lưng lan xuống mặt sau đùi cẳng chân thêm trật biên, thừa phù, ủy trung, thừa sơn. Đau vùng cùng cụt thêm bát liêu. Nhĩ châm: giao cảm, thận, chi trên, chi dưới, thời gian 20-30'/lần x 1-2 lần/ngày. * XBBH vùng bị đau, đối với loãng xương nặng ko nên thực hiện các động tác vận động cột sống vì dễ gây tai biến. * Khí công dưỡng sinh: sử dụng các bài luyện thở, luyện hình thể để nâng cao sức khỏe, giảm các tai biến, hạn chế sự tiến triển của bệnh. 20-30'/lần, 1-2 lần/ngày. C. THẬN CAN THẬN ÂM HƯ, PHONG THẤP XÂM NHẬP * Chứng hậu: Lưng và tứ chi đau mỏi, vô lực, vận động khó khăn. Họng khô lưỡi táo, lòng bàn tay bàn chân đỏ; tự hãn, đạo hãn. Lưỡi hồng, rêu lưỡi mỏng, ít rêu hoặc ko rêu, mạch tế sác. * Biện chứng: Nhân cơ thể ở giai đoạn lão hóa, thận tinh suy giảm, can thận âm hư, sức đề kháng cơ thể giảm sút, tà khí thừa cơ xâm nhập vào cơ thể, ứ trệ ở cân cốt làm cho khí huyết tắc trở dẫn đến lưng gối, khớp đau, làm nặng thêm bệnh loãng xương. Can thận âm hư, phong thấp xâm nhập gây nên đau mỏi tứ chi và lưng, vận động khó khăn; âm hư nên họng khô lưỡi táo, lòng bàn tay bàn chân đỏ; lưỡi hồng rêu mỏng, mạch tế sác. Can Thận âm hư lâu ngày làm chính khí hư suy, vệ khí bất cố, phong thấp tà thừa cơ xâm nhập vào cơ thể, ứ trệ ở cân cơ xương kinh lạc làm khí huyết tắc trở mà sinh chứng lưng và tứ chi đau mỏi, vận động khó khăn. Can Thận âm hư sinh nội nhiệt biểu hiện lòng bàn chân, bàn tay đỏ. Đạo hãn, Lưỡi hồng, mạch sác. Hoả nhiệt thiêu đốt tân dịch làm tân dịch hư tổn không đủ tư nhuận nên Họng khô, lưỡi táo. Tinh huyết bất túc nên Rêu lưỡi mỏng, ít rêu hoặc không rêu; Mạch tế. Chính khí hư suy, vệ khí bất cố nên Tự hãn * Pháp: Bổ can thận trừ phong thấp. * Phương: Độc hoạt tang ký sinh thang: Độc hoạt 8g, Phòng phong 15g, Tang ký 15g, Tế tân, 8g, Tần giao 8g, Ngưu tất 15g, Đỗ trọng 15g, Quế chi 10g, Đẳng sâm 15g, Bạch linh 12g, Cam thảo 6g, Xuyên khung 15g, Đương quy 15g, Thục 15g, Bạch thược 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần, uống sau ăn 20- 30' Gia giảm: Đau nhiều gia cẩu tích 12g, Cốt toái 12g,Tục đoạn 12g. Tự hãn, đạo hãn gia Long cốt 15g, Mẫu lệ 15g. Đại tiện bí gia Nhục thung dung 8g. Mồm miệng khô gia Thiên hoa phấn 12g * Châm bổ: thái khê, tam âm giao, huyền chung, can du, thận du, đại trường du. Thời gian 20-30'/lần x 1-2 lần /ngày. Đau vùng mông thêm trật biên. Đau vùng thắt lưng lan xuống mặt sau đùi cẳng chân thêm trật biên, thừa phù, ủy trung, thừa sơn. Đau vùng cùng cụt thêm bát liêu. Nhĩ châm: giao cảm, can, thận, chi trên, chi dưới, thời gian 20-30'/lần x 1-2 lần/ngày * XBBH vùng bị đau, đối với loãng xương nặng ko nên thực hiện các động tác vận động cột sống vì dễ gây tai biến. * Khí công dưỡng sinh: sử dụng các bài luyện thở, luyện hình thể để nâng cao sức khỏe, giảm các tai biến, hạn chế sự tiến triển của bệnh. 20-30'/lần, 1-2 lần/ngày D. TỲ VỊ HƯ NHƯỢC * Chứng hậu: Tứ chi mỏi tê, không muốn vận động. Sắc mặt kém nhuận, cảm giác chóng mặt. Miệng nhạt ăn kém, bụng đầy trướng; đại tiện phân nát, có thể sống phân. Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch tế nhược vô lực. * Biện chứng: Do ăn uống không điều độ, ăn cao lương mĩ vị nhiều, uống nhiều rượu khiến tỳ vị bị tổn thương; hoặc do dinh dưỡng bị thiếu, tinh hậu thiên bất túc không thể tư dưỡng được Thận tinh, làm cốt bị thất dưỡng gây:tứ chi mỏi têkhông muốn vận động. Tỳ vị hư nhược mất chức năng vận hoá —> Khí huyết không đầy đủ làm sắc mặt kém nhuận. Khí huyết không đủ đưa lên nuôi dưỡng não nên bệnh nhân có cảm giác chóng mặt. Khí huyết bất túc nên mạch tế nhược vô lực. Tỳ vị hư nhược không vận hoá được thuỷ cốc, đồ ăn tích trệ lại ở Vị gây Bụng dầy trướng; Ăn kém; Đại tiện phân nát, có thể sống phân.Tỳ khai khiếu ra miệng vinh nhuận ra môi. Tỳ vị hư nhược mất kiện vận nên miệng nhạt, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng. Sách Linh khu viết: “Tỳ khí thông lên miệng, Tỳ hoà thì miệng có thể biết được vị của Ngũ cốc”. * Phương: Tứ quân tử thang gia vị: Đẳng sâm 12g, Bạch linh 12g, Bạch truật 12g, Chích thảo 10g, Đương quy 10g, Hoàng kỳ 10g, Hoài sơn 12g Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần trước ăn 30'. Chân tay nặng nề gia Phòng kỷ 12g * Châm bổ: đại trữ, huyền chung, giáp tích, đại chùy, tỳ du, vị du, thận du, đại trường du, tam âm giao, túc tam lý. Thời gian 20-30'/lần x 1 - 2 lần /ngày. Cổ gáy đau thêm phong trì, kiên tỉnh, đại trữ. Lưng dưới đau kèm theo rối loạn tiêu hóa thêm công tôn. Nhĩ châm: giao cảm, thận, tỳ, vị, chi trên, chi dưới, thời gian 20-30'/lần x 1 - 2 lần/ngày. * XBBH vùng bị đau, đvới loãng xương nặng ko nên thực hiện các động tác vận động vì dễ gây tai biến. * Khí công dưỡng sinh: sử dụng các bài luyện thở, luyện hình thể để nâng cao sức khỏe, giảm các tai biến, hạn chế sự tiến triển của bệnh. 20-30'/lần, 1-2 lần/ngày |
|
|
| 1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous) | |
| « Previous Topic · Y Học Cổ Truyền & Vật Lý Trị Liệu · Next Topic » |


huutuanbmt


7:31 AM Jul 11