| Thông điệp: |
| MỘT CÁI QUƠ TAY CŨNG THUỘC VỀ QUÁ KHỨ. HẪY BẮT ĐẦU NGAY HÔM NAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ CHÚNG TA CÙNG TẠO NHỮNG QUÁ KHỨ , TƯƠNG LAI THẬT ĐẸP VỚI NHAU NHÉ. »»--(¯`° DIỄN ĐÀN Y KHOA ĐĂK LĂK°´¯)--»» Trước tiên BQT xin gửi lời chào đến tấc cả các bạn.Cảm ơn các bạn đã dành chút thời gian để tham gia, học hỏi, trao đổi kiến thức và xin chúc các bạn có một ngày may mắn, và nhiều vui vẻ. Diễn đàn y khoa ra đời vì mục đích giao lưu, kết bạn, học hỏi, quan tâm, chia sẽ và giúp đỡ bằng tận đáy lòng mình, mà nhất là luôn duy trì trên tinh thần học hỏi để tình cảm ấy dù ngày tháng có trôi qua. Tuổi già răng rụng tóc bạc, vẩn luôn nhớ đến nhau .^_^. hãy giúp chúng tôi xây dựng diễn đàn y khoa phát triển để làm cầu nối với nhau. Sử dụng firefox để đăng nhập dễ dàng hơn ! nếu có thắc mắc xin liên hệ trực tiếp Facbook: https://www.facebook.com/DienDanYKhoaDL forum: http://ykhoadl.tk Email: nguyenhuutuanbmt@gmail.com SĐT : - 0979464642 Thay mặt diễn đàn xin chân thành cảm ơn!!! |
| Viêm Cầu Thận Cấp ( Thủy Thủng Thể Dương Thủy ) | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: Jan 5 2017, 10:25 PM (8 Views) | |
huutuanbmt
|
Jan 5 2017, 10:25 PM Post #1 |
|
Hội chứng viêm cầu thận cấp là biểu hiện lâm sàng của một thương tổn viêm cấp của những cầu thận, đặc trưng với sự xuất hiện đột ngột hồng cầu niệu, protein niệu, phù và tăng huyết áp. Hiện nay, nhờ những tiến bộ khoa học, nhất là kỹ thuật sinh thiết thận. Người ta đều thống nhất rằng: Viêm cầu thận cấp (VCTC) không chỉ là một bệnh đơn thuần mà là một hội chứng gọi là hội chứng cầu thận cấp. Lý do là vì bệnh cảnh lâm sàng thường giống nhau nhưng tổn thương mô bệnh học lại đa dạng, bệnh phát sinh không chỉ do liên cầu mà có thể sau nhiễm tụ cầu, phế cầu, virus.Hội chứng viêm cầu thận cấp còn biểu hiện thứ phát sau các bệnh như lupus ban đỏ hệ thống, ban dạng thấp, viêm quanh động mạch dạng nút. Theo Y Học Cổ Truyền thủy thũng là loại bệnh do công năng bài tiết thủy dịch trong cơ thể mất b́nh thường, thủy dịch ứ đọng lại gây nên phù thũng cục bộ hoặc toàn thân. Chất nước ứ đọng trong cơ thể, tràn ra da, thớ thịt, làm cho mặt, mi mắt, chân tay, lưng bụng, thậm chí toàn thân phù, gọi chung là Thủy thũng. Trong Nội kinh có bệnh danh là ‘Thủy’; Sách ‘Kim Quỹ Yếu Lược’ có bệnh danh là ‘Thủy khí’. Thiên ‘Khí Huyết Luận’ (Tố Vấn 37) viết; “Mạch của Thận Vi Đại là chứng Thạch thủy. Dũng thủy ấn tay vào bụng không thấy cứng, thủy khí náu ở Đại trường, đi nhanh có tiếng kêu óc ách, như túi bọc nước, đó là bệnh Thủy”. Về phân loại, sách Nội Kinh căn cứ vào triệu chứng mà nêu ra Phong thủy, Thạch thủy. Lại căn cứ vào chất nước ứ đọng ở mỗi tạng để chia ra các loại chứng hậu khác nhau. Chu Đan Khê đời Nguyên tổng kết lư luận và kinh nghiệm của người xưa, chia thủy thũng làm hai loại lớn là Âm thủy, Dương thủy. Các đời sau, căn cứ theo lư thuyết của Chu Đan Khê trên cơ sở hai loại lớn Âm thủy, Dương thủy lại chia ra nhiều thể bệnh, đối với nhận thức về biện chứng thể bệnh đă có bước tiến nhất định. Những bàn luận về thủy thũng của người xưa, bao gồm cả loại Thủy thũng do viêm Thận cấp, mạn tính; bệnh Tim, xơ Gan và trở ngại dinh dưỡng trong y học hiện đại. Biện Chứng Luận Trị Mới bị thủy thũng, phần nhiều xuất hiện chứng trước hết phù ở mi mắt, sau đó lan ra đầu mặt, tay chân và toàn thân. Cũng có khi bắt đầu phù thũng từ chân rồi mới phát triển toàn thân. Nếu t́nh thế bệnh nghiêm trọng có thể có các chứng trạng ngực bụng nghẽn đầy, suyễn thở không nằm được. Thiên ‘Thủy Trướng’ (Linh Khu) viết: “Bắt đầu bị chứng thủy, hố mắt hơi sưng như người mới ngủ dậy, ho, bắp chân lạnh, ống chân phù, bụng cũng to, đó là đă h́nh thành chứng thủy. Để xét chứng hậu, dùng tay ấn vào bụng thấy chỗ đó lơm xuống, nhấc tay lên chỗ lơm nổi ngay như người lấy tay nhúng vào nước vậy”. Biện chứng thủy thũng có thể chia hai loại lớn là Âm thủy, Dương thủy. Dương thủy thuộc Biểu thuộc thực, Âm thủy thuộc Lư thuộc hư. Dương thủy bao gồm phong và thủy chọi nhau, thủy thấp xâm lấn. Âm thủy bao gồm Tỳ Thận dương hư, thủy tà tràn lan. Về điều trị, có ba phép lớn là phát hăn, lợi tiểu và công trục. Sách ‘Kim Quỹ Yếu Lược’ đề xuất hướng điều trị: “Phong thủy thấp mạch Phù, chứng biểu hiện đau khớp xương, sợ gió. Thấp thủy mạch cũng Phù, chứng biểu hiện mu chân sưng, ấn vào lơm tay, không sợ gió, bụng to như trống, điều trị nên phát hăn. Chính thủy thấp mạch trầm trì , chứng biểu hiện là Suyễn. Thạch thủy thấp mạch Trầm, chứng biểu hiện là bụng đầy mà không suyễn... các bệnh thủy từ lưng trở xuống thũng, nên lợi tiểu tiện; Từ lưng trở lên thũng, nên phát hăn sẽ khỏi”. Thiên ‘Thũng Trướng’ (Cảnh Nhạc Toàn Thư) viết: “Ôn bổ thấp có thể hóa khí. Hóa khí sẽ khỏi hẳn, Khỏi hẳn rất tự nhiên. Tiêu phạt là để trục tà, trục tà sẽ khỏi tạm thời, cái khỏi đó chỉ là g̣ượng ép. Một đằng là khỏi đích thực, một đằng khỏi gỉả tạo, làm sao có thể coi khỏi giả tạo là khỏi đích thực được chăng”. Hải Thượng Lãn Ông nêu ra nguyên tắc điều trị chi tiết như sau: - Thũng ở phần trên, dùng phép phát hãn, ở phần dưới dùng phép lợi tiểu. - Thũng ở phần biểu dùng phép phát hãn, ở phần lý dùng phép công hạ. Nhưng không nên dùng thuốc quá mạnh như Đại kích, Cam toại… Nếu dùng thuốc quá mạnh thủy tà nhân hư mà chuyển thành bệnh nặng hơn, tiểu không thông, dùng thuốc thông lợi mà tiểu lại bị bế. Do trung khí bị hư, mất chức năng thăng giáng. Ngoài ra c̣ông năng do thuốc hàn lương làm ngăn lại gây nên tiểu không thông. Chỉ nên dùng thuốc ôn dương giáng khí như Trầm Hương Phụ Tử Thang… tiểu thông mà suyễn đầy cũng khỏi. Thông qua thực tiễn lâm sàng lâu đời, về sau bổ sung thêm các phép chữa kiện Tỳ, bổ Thận, ôn dương, vừa công vừa bổ. Trên lâm sàng thủy thũng dương thủy chia thành các thể thường gặp sau: 1. PHONG TÀ (Phong thủy) thường gặp VCTC do lạnh do bội nhiễm. - Triệu chứng: phù mặt và nữa người trên, sau đó phù toàn thân,kèm theo biểu chứng sốt, gai rét, rêu lưỡi trắng dầy, tiểu tiện ít mạch phù. - Biện chứng: Phong tà làm ảnh hưởng tới phế vệ (bì mao) nên biểu phát hiện sốt, gai rét, rêu lưỡi mỏng, mạch phù. Phong tà tác động mạch vào phế làm phế khí ko tuyên thông, phế khí ko giáng thì ko làm thông và điền hòa đường nước ở thượng tiêu, nước ko xuống được bàng quang ứ lại tràn ra thành thủy thủng và biểu hiện triệu chứng phù ở nữa người trên, phù mặt, đái ít. - Pháp: Tuyên phế phát hãn lợi niệu. - Phương: Việt tỳ thang gia giảm Ma hoàng 12g sơ phong tuyên phế. Sinh khương 6g sơ tán ngoại tà làm tăng tác dụng của Ma hoàng. Thạch cao 20g để trừ phiền lợi niệu. Bạch truật 12g để kiện tỳ thẩm thấp lợi niệu. Mộc thông 8g, Sa tiền 6g để lợi thủy. Quế chi 6g để tân ôn giải biểu. Cam thảo 6g, đại táo 12g để điều hòa các vị thuốc) - Châm tả: ngoại quan, liệt khuyết, khí hải, túc tam lý, phục lưu, hợp cốc. 2. THỦY THẤP Hay gặp viêm cầu thận bán cấp. - Triệu chứng phù toàn thân, đái ít sốt nhẹ, thân mình nặng nề, ngực tức, ăn kém, rêu lưỡi dầy, mạch trầm hoãn hoặc đới sác. - Biện chứng: Do thủy thấp cảm nhiễm vào bì phu làm ủng tắc gây phù. Do thủy thấp tụ vào trong khiến tam tiêu bị trở ngại, bàng quang khí hóa thất thường nên tiểu tiện ko thông. Thủy thấp ko có đường ra nên tràn ứ ở bì phu gây nên phù càng tăng. Tỳ bị thấp dương khí ko thư thái nên người mệt mỏi thân mình nặng nề, ngực tức chán ăn.. - Pháp: Thông dương lợi thấp. - Phương: Ngũ linh tán Phuc linh, Trư linh 12g, lợi thủy thẩm thấp. Quế chi 8g ôn hóa bàng quang, lợi niệu sơ tán ngoại tà. Trạch tả 12g lợi niệu giúp cho trư linh mạnh hơn. Bạch truật 12g để kiện tỳ táo thấp. hoặc phối hợp bài Ngũ linh tán với Ngũ bì ẩm (trần bì, sinh khương bì, tang bạch bì, đại phúc bì, phục linh bì ). - Châm tả: Ngoại quan liệt khuyết, âm lăng tuyền, túc tam lý, phục lưu, hợp cốc. 3. THẤP NHIỆT Hay gặp VCTC do mụn nhọt - Triệu chứng: phù toàn thân nước tiểu đỏ ít, khát nươc nhiều, da cơ viêm nhiễm sưng nóng đỏ đau, bụng đầy tức khó thở, rêu lưỡi vàng mạch hoạt sác. - Biện chứng: Da thịt do tỳ phế làm chủ cho nên da nổi mụn nhọt thấp độc chưa thanh giải tiêu tan được quay vào tạng phủ làm cho trung tiêu ko vận hóa được thủy thấp, mất khả năng phân thanh giáng trọc, mặt khác làm cho phế ko thông điều thủy đạo nên tiểu tiện ko lợi, chuyển hóa thủy dịch bị trở ngại tràn đầy bì phu mà gây phù. Vì thấp nhiệt ủng trệ ở tam tiêu, khí cơ thăng giáng thất thường mà gây ngực bụng đầy tức, khó thở. Nhiệt tà thịnh hơn làm cho tân dịch bị hao gây tiểu ít, tiểu đỏ. - Pháp: thanh nhiệt giải độc, trù thấp, trục thủy (nếu phù nặng). - Phương : Đạo xích tán gia giảm Sinh địa 12g, Rễ cỏ tranh 20g thanh nhiệt lương huyết. Hoàng cầm, Hoàng bá 12g, Bồ công anh 20g để thanh nhiệt táo thấp giải độc. Mộc thông 12g, Trúc diệp 16g để thanh nhiệt lợi thủy. Cam thảo 4 để điều hòa các vị thuốc. Nếu đái máu nhiều thêm Tiểu kế 12g, Chi tử sao đen 08g. Nếu HA cao thêm Cúc hoa 12g, Mạn kinh tử 8g, Câu đằng 12g Phù nặng gia thêm Đình lịch tử 8g, Hắc sửu 10g để trục thủy; - Châm: Thủy phần, khúc trì, hợp cốc, tam tiêu du, âm lăng tuyền, phục lưu. |
|
|
| 1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous) | |
| « Previous Topic · Y Học Cổ Truyền & Vật Lý Trị Liệu · Next Topic » |


huutuanbmt


7:31 AM Jul 11