| Thông điệp: |
| MỘT CÁI QUƠ TAY CŨNG THUỘC VỀ QUÁ KHỨ. HẪY BẮT ĐẦU NGAY HÔM NAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ CHÚNG TA CÙNG TẠO NHỮNG QUÁ KHỨ , TƯƠNG LAI THẬT ĐẸP VỚI NHAU NHÉ. »»--(¯`° DIỄN ĐÀN Y KHOA ĐĂK LĂK°´¯)--»» Trước tiên BQT xin gửi lời chào đến tấc cả các bạn.Cảm ơn các bạn đã dành chút thời gian để tham gia, học hỏi, trao đổi kiến thức và xin chúc các bạn có một ngày may mắn, và nhiều vui vẻ. Diễn đàn y khoa ra đời vì mục đích giao lưu, kết bạn, học hỏi, quan tâm, chia sẽ và giúp đỡ bằng tận đáy lòng mình, mà nhất là luôn duy trì trên tinh thần học hỏi để tình cảm ấy dù ngày tháng có trôi qua. Tuổi già răng rụng tóc bạc, vẩn luôn nhớ đến nhau .^_^. hãy giúp chúng tôi xây dựng diễn đàn y khoa phát triển để làm cầu nối với nhau. Sử dụng firefox để đăng nhập dễ dàng hơn ! nếu có thắc mắc xin liên hệ trực tiếp Facbook: https://www.facebook.com/DienDanYKhoaDL forum: http://ykhoadl.tk Email: nguyenhuutuanbmt@gmail.com SĐT : - 0979464642 Thay mặt diễn đàn xin chân thành cảm ơn!!! |
| Đau Thần Kinh Liên Sườn ( Hung Hiếp Thống ) | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: Jan 5 2017, 10:26 PM (8 Views) | |
huutuanbmt
|
Jan 5 2017, 10:26 PM Post #1 |
|
Đau thần kinh liên sườn là một bệnh rất thường gặp, triệu chứng điển hình của bệnh là đau tức ngực, đau mạng sườn, là những cơn đau kéo dài hoặc xuất hiện từng đợt dọc theo dây thần kinh liên sườn. Bệnh nhân thường chỉ đau ở một bên, trái hoặc phải; đau từ trước ngực, lan theo mạng sườn ra phía sau ở cạnh cột sống. Đau thần kinh liên sườn là bệnh do nhiều nguyên nhân gây nên như: chấn thương, vận động sai tư thế, cường độ quá mạnh, thoái hóa cột sống, nhiễm khuẩn, nhiễm độc, đái tháo đường, viêm đa dây thần kinh... Nếu không tìm thấy nguyên nhân gọi là đau thần kinh liên sườn tiên phát. Theo Y học cổ truyền Hung hiếp thống là chứng trạng tự cảm thấy. Hung thống là chỉ chứng trạng đau vùng ngực, bao gồm vị trí hai tạng Tâm Phế ở Thượng tiêu. Hiếp thống là chỉ chứng đau ở một hoặc hai bên sườn, có liên quan đến Can, Đởm. Chứng Chân tâm thống mà sách Linh Khu đề cập đến là chứng Hung thống nặng. Khi chân tâm thống có cơn đau nặng, tuy phần nhiều xuất hiện tình trạng dương khí suy vi, nhưng quá trình phát sinh, phát triển, biểu hiện không giống nhau. Chứng Hung tý giới thiệu trong sách ‘Kim Quĩ Yếu Lược’, loại nhẹ thuộc chứng ngực đầy ngày nay, loại nặng là chỉ chứng Hung thống ngày nay, những bàn luận đó lại nghiêng về hung dương bất túc, âm hàn ngăn trở, chứ không bao quát tất cả các loại Hung thống. Phân tích theo lý luận y học cổ truyền, Hung thống và Hiếp thống tuy vị trí khác nhau, nhưng nguyên nhân, bệnh lý và trị liệu lại có chỗ thông với nhau. Do đó, đem Hung thống, Hiếp thống bao quát cả Hung tý và Chân tâm thống cùng thảo luận chung. Trong lâm sàng, các chứng Phế viêm, Hung mạc viêm, đau thần kinh liên sườn, Viêm túi mật, giun chui ống mật, sỏi mật, viêm gan, sơ vữa động mạch v.v.. triệu chứng xuất hiện ở mức độ khác nhau đều nằm trong phạm vi Hung Hiếp Thống. Nguyên Nhân Hung ở thượng tiêu, bên trong Tâm Phế; Hiếp ở hai bên, nơi ở của Can, Đởm. Vì vậy, Hung hiếp thống có quan hệ chặt chẽ với Tâm, Phế, Can, Đởm, Tâm chủ huyết mạch, Phế chủ túc giáng, Can Đởm coi về sơ tiết; cho nên, nguyên nhân nào dẫn đến Can Phế thăng giáng mất bình thường, sơ tiết không lợi, mạch lực không thông, ứ huyết ngưng trệ, dương khí trong hung tê nghẽn hoặc kinh mạch không được nuôi dưỡng, đều gây nên Hung thống. Hung hiếp thống trước hết phải chia Hư, Thực. Lâm sàng thường gặp thực chứng nhiều hơn hư chứng. A. THỰC CHỨNG 1. Phong hàn Triệu chứng: Thường bị đau đột ngột, đau nặng, sợ lạnh, mạch phù khẩn, rêu lưỡi trắng đạm Pháp: Thông kinh hoạt lạc khu phong tán hàn Phương dược : ĐỐI PHÁP LẬP PHƯƠNG Quế chi 8g, Bạch chỉ 8g, Phòng phong 8g Khương hoạt 8g, Đan sâm 12g, Chỉ sác 6g, Xuyên khung 8g, Thanh bì 6g, Uất kim 8g Châm cứu: A thị huyệt, vùng rễ thần kinh nơi xuất phát, vùng nách giữa nơi thần kinh đi qua và điểm đau nhất. Có thể châm huyệt Nội quan, Dương lăng tuyền 2. Can uất khí trệ Triệu chứng: Ngực sườn trướng đau, chủ yếu là đau sườn, đau xiên nhói không cố định, thường lên cơn đau khi tình chí bị xúc động, ngực khó chịu, ăn kém, ợ hơi, mạch Huyền. Biện chứng: Can khí uất kết, Phế mất sự túc giáng cho nên ngực sườn trướng đau mà chủ yếu là đau sườn. Đau xiên nhói không cố định là đặc điểm đau do khí trệ. Biến đổi tình tự có quan hệ chặt chẽ với sự uất kết của khí cơ, cho nên cơn đau có liên quan tới xúc động tình tự. Can khí hoành nghịch, dễ xâm phạm Tỳ Vị cho nên ăn kém và ợ hơi. Mạch Huyền là dấu hiệu Can khí vượng. Điều trị: Sơ Can lý khí. Dùng bài SÀI HỒ SƠ CAN TÁN (Trong bài, dùng thuốc Sài hồ để sơ Can, phối hợp với Hương phụ, Chỉ xác để lý khí). Bệnh nặng, có thể thêm Thanh bì, Bạch giới tử, vì hai vị này là thuốc chủ yếu để chữa Hung hiếp thống do khí trệ. Nếu khí uất hóa hỏa có chứng ngực sườn đau như bị đâm, phiền nhiệt, miệng khô, đại tiểu tiện không thông, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch Huyền Sác, nên thêm Kim Linh Tử Tán, Tả Kim Hoàn và Đan bì, Chi tử để thanh Can điều khí. Nếu Can khí hoành nghịch, Tỳ vận hóa không đều, có chứng đau sườn, sôi bụng, tiêu chảy, nên thêm Phục linh, Bạch truật để kiện Tỳ khỏi tiêu chảy. Nếu do Vị mất hòa giáng, có chứng đau sườn và muốn nôn, nôn mửa, nên dùng thêm Toàn phúc hoa, Đại giả thạch, Bán hạ và Sinh khương để hòa Vị khỏi nôn. Châm tả: Trung đình, Can du, Kỳ môn, Hiệp khê. (Kỳ môn là mộ huyệt của kinh Can, hợp với Can du là bối du huyệt theo cách phối huyệt Du – Mộ để sơ Can, lý khí; Hiệp khê là huyệt Vinh của kinh Đởm phối hợp với Trung đình để giải nhiệt ở kinh Thiếu dương, giảm đau hông sườn). Gia giảm: Ợ chua thêm Vị du; Ít ngủ thêm Thần môn (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học). 3. Phong Nhiệt Nghẽn Đọng Ở Phế: Triệu chứng: Đau vùng ngực, ho, khó thở, ho ra máu, hoặc ho khạc ra mủ đờm hôi tanh, sợ lạnh, sốt, miệng khô, họng ráo, nặng hơn thì phiền táo, rêu lưỡi vàng dầy, mạch Hoạt Sác. Biện chứng: Phong nhiệt ứ đọng ở Phế, làm cho khí không tuyên thông được thì ho, đau ngực, suyễn đầy. Nhiệt làm tổn thương Phế lạc thì ho ra máu. Ứ nhiệt kết ở trong thành ung thì khạc ra đờm mủ hôi tanh. Tà khí với chính khí xung đột nhau, thì sợ lạnh phát sốt. Miệng khô, lưỡi ráo là do nhiệt làm hao thương tân dịch. Nhiệt độc nung nấu ở trong nên phiền táo. Rêu lưỡi vàng dầy, mạch Hoạt Sác đều là chứng Phế có Thực nhiệt. Điều trị: Tuyên Phế thanh nhiệt. Dùng bài Ma Hạnh Thạch Cam Thang, Ngân Kiều Tán gia giảm. (Trong bài có Ma hoàng, Hạnh nhân để tuyên tiết Phế khí, phối hợp với Thạch cao để thanh nhiệt. Ngân Kiều Tán tân lương thấu biểu, giải độc. Nhiệt làm tổn thương huyết lạc thì ho ra đờm lẫn huyết, bỏ Ma hoàng, Kinh giới, Đậu si thêm Chi tử, Hoàng cầm, Huyền sâm, Mao căn, Ngẫu tiết v.v... để thanh nhiệt, lương huyết. Nhiệt độc thành nhọt, có thể đổi dùng Thiên Kim Vi Hành Thang và Cát Cánh Thang để thanh nhiệt hóa ứ, tiêu mủ). Chứng này nếu biểu tà đã giải mà nước ứ đọng ở dưới sườn, ho mà suyễn đầy, nên điều trị theo Huyền ẩm. 4. Can Đởm Thấp Nhiệt: Triệu chứng: Miệng đắng, sườn đau, ngực khó chịu, biếng ăn, muốn nôn, nôn mửa, mặt đỏ hoặc hoàng đản, nước tiểu vàng đỏ, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Huyền Sác. Biện chứng: Sườn là nơi đường kinh Can Đởm vận hành ngang qua, thấp nhiệt kết đọng ở Can Đởm, đường lạc của Can không hòa, Đởm không sơ tiết, cho nên miệng đắng sườn đau. Can khai khiếu lên mắt, Can hỏa nghịch lên, cho nên mắt đỏ. Thấp nhiệt nung nấu, đởm trấp tràn ra ngoài da gây nên Hoàng đản. Thấp nhiệt nghẽn ở trong làm cho ngực khó chịu, biếng ăn, lợm lòng, nôn mửa. Rêu lưỡi vàng nhớt, mạch Huyền Sác đều là triệu chứng Can Đởm thấp nhiệt. Điều trị: Thanh nhiệt lợi thấp. Dùng bài LONG ĐỞM TẢ CAN THANG GIA GIẢM (Trong bài dùng Long đởm thảo để tả thấp nhiệt ở Can Đởm; Sài hồ để sơ đạt Can khí; Hoàng cầm, Chi tử để thanh nhiệt tiết hỏa; Mộc thông, Trạch tả, Xa tiền tử để thanh lợi thấp nhiệt). Cũng có thể tùy nghi thêm Xuyên luyện tử, Diên hồ sách, Mộc hương, Bán hạ để sơ Can hòa Vị, lý khí, giảm đau. Nếu ống dẫn mật có sỏi, đau sườn xiên lên vai phải thì thêm Kim tiền thảo, Hải kim sa, Uất kim và Tiêu Thạch Phàn Thạch Tán... Nếu kiêm cả Trường Vị táo nhiệt, đại tiện không thông, bụng chướng đầy, thêm Đại hoàng, Mang tiêu. Nếu phát sốt, Hoàng đản, thêm Nhân trần, Hoàng bá, Đại hoàng. Nếu sườn bên phải đau thắt, nôn mửa ra giun, trước hãy cho uống Ô Mai Hoàn để yên giun, tiếp theo cho uống các vị thuốc khác kèm theo thuốc trừ giun như Sài hồ, Hoàng cầm, Xuyên luyện tử, Diên hồ sách, Bán hạ, Mộc hương, Tân lang, Sử quân tử, Khổ luyện căn bì.... Châm tả Kỳ môn, Nhật nguyệt, Chi câu, Dương lăng tuyền, Thái xung. (Kỳ môn, Nhật nguyệt là nơi biểu hiện khí của Can Đởm ra bên ngoài, châm tả để sơ lợi khí huyết của Can Đởm; Chi câu, Dương lăng tuyền là hai huyệt thường dùng trị hông sườn đau, châm tả có tác dụng hoà giải Thiếu dương, hoá thấp, thanh nhiệt). Gia giảm: Sốt cao thêm Đại chuỳ; Nôn mửa, bụng đầy trướng thêm Trung quản, Túc tam lý; Tâm phiền thêm Khích môn (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học). B. HƯ CHỨNG 1. Hung Dương Tắc Nghẽn: Triệu chứng: Đau vùng ngực lan tỏa sau lưng, hồi hộp, hơi thở ngắn, mạch Huyền. Bệnh nặng thì suyễn thở không nằm được, sắc mặt xanh nhợt ra mồ hôi lạnh, tay chân quyết lạnh, mạch Trầm Tế. Biện chứng: Ngực ở vùng thượng tiêu, Dương khí không chuyển vận, Khí cơ tắc nghẽn cho nên ngực đau lan ra lưng. Phần dương ở ngực không mạnh, Khí cơ bị ngăn trở, gây nên hồi hộp, hơi thở ngắn thậm chí suyễn, không nằm được. Nếu dương khí suy yếu, không làm ấm áp cả trong lẫn ngoài, xuất hiện sắc mặt xanh nhợt, tự ra mồ hôi, tay chân quyết lạnh, rêu lưỡi trắng, mạcch Trầm Tế v.v... Điều trị: + Bệnh nhẹ dùng phép Tân ôn thông dương. Dùng QUÁT LÂU GIỚI BẠCH BÁN HẠ THANG + Bệnh nặng dùng phép Hồi dương cứu nghịch, dùng TỨ NGHỊCH THANG thêm Nhân sâm. Khi dùng Quát Lâu Giới Bạch Bán Hạ Thang có thể thêm Chỉ thực, Quế chi, Quất bì, Sinh khương, Phục linh, Hạnh nhân v.v.... Quát lâu, Bán hạ, Chỉ thực để khai thông tê dại, Giới bạch, Quế chi để thông dương. Âm tà tê nghẽn, Hung dương bất túc, thì dùng Quế chi liều cao. Đờm thấp ở trong quá thịnh thì dùng Sinh khương, Quất bì, Bán hạ liều cao. Nếu đau nhiều, có thể dùng thêm loại phương hương khai tiết như Quan Tâm Tô Hợp Hương Hoàn, để tuyên tý giảm đau, hoặc thêm các vị phương hương tân ôn như Trầm hương, Đàn hương, Tất bát, Lương khương v.v...Nếu có ứ huyết, môi tím tái, lưỡi xám, có thể thêm các vị hoạt huyết, hóa ứ như Đan sâm, Hồng hoa, Uất kim, Mao đông thanh.v.v.. Nếu vùng ngực đau mà trắng nhợt, chân tay lạnh, tự ra mồ hôi là dương khí hư suy không làm ấm áp kinh mạch gây nên, dùng Tứ Nghịch Thang thêm Nhân sâm để hồi dương cứu nghịch. Nếu dương hư chưa hồi phục mà thấy xuất hiện chứng trạng âm hư, phải chiếu cố điều trị cả 2 mặt. 2. Âm Hư Nội Nhiệt: Triệu chứng: Hai bên sườn đau âm ỉ, thường phát cơn sau khi lao động nhọc mệt, miệng khô, trong tâm phiền nhiệt, chóng mặt, hoa mắt, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Tế Huyền. Biện chứng: âm huyết hư yếu, không nhu dưỡng được mạch lạc cho nên ngực sườn đau âm ỉ, mệt nhọc thì đau nhiều, âm hư nội nhiệt, cho nên miệng khô, trong tâm phiền nhiệt, đau đầu, chóng mặt, lưỡi đỏ, mạch Tế Huyền là dấu hiệu âm hư Can dương khuấy động gây nên. Điều trị: Tư âm dưỡng can. Dùng bài NHẤT QUÁN TIỄN (Trong bài dùng Sa sâm, Mạch đông, Đương qui, Sinh địa, Câu kỷ để tư dưỡng Can thận; Xuyên luyện tử để sơ Can lý khí giảm đau. Nếu đau tăng có thể thêm Trầm hương, Huyền hồ, Uất kim theo phương châm ‘Cấp thì trị tiêu'). Nếu bệnh tình phức tạp, Can Thận suy yếu lại kèm Can Đởm có thấp nhiệt, miệng đắng và khô, lưỡi đỏ rêu lưỡi vàng nhớt, lúc này, muốn tư âm thì sợ vướng thấp, muốn hóa thấp lại sợ thương âm; có thể dùng bài Ôn Đởm Thang phối hợp Nhất Quán Tiễn, sử dụng các vị như Sa sâm, Hài nhi sâm, Mạch đông, Bạch thược, Nữ trinh tử, Xuyên luyện tử, Bán hạ, Quất bì, Phục linh, Trúc nhự, Chỉ xác v.v... Phân tích theo y học cổ truyền, thống tắc bất thông, thông tắc bất thống, nhưng phép 'thông" cũng phải phân tích cụ thể: Hàn thì làm ấm để thông; Nhiệt kết thì dùng khổ tiết để thông. Cho nên đối với Hung hiếp thống loại thực chứng, có các phép lý khí, hoạt huyết, tuyên Phế, hóa thấp. Hung Hiếp thống loại chứng Hư có các phép thông dương tuyên Tý, hồi dương cứu nghịch, tư dưỡng Can âm... Các phép trên, tuy khác nhau, nhưng đều nhằm mục đích 'thông tắc bất thống’. Châm bổ và cứu: huyệt Âm khích, Tâm du, Huyết hải, Tam âm giao. (Mồ hôi là dịch của Tâm, huyệt Âm khích hợp với Tâm du để liễm hãn, dưỡng âm, huyết thuộc âm. Huyết hải hợp với Tam âm giao làm cho âm huyết được thông, lạc mạch ở hông sườn được nuôi dưỡng thì chứng đau hông sườn do âm hư sẽ hết (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học). Gia giảm: Sốt về chiều thêm Cao hoang; Đầu váng thêm cứu Bá hội. Nhĩ Châm: chọn huyệt Can, Đởm, Thần môn, Hung. Châm kích thích mạnh, lưu kim 30 phút hoặc gài kim (Tân Biên Châm Cứu Trị Liệu Học). |
|
|
| 1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous) | |
| « Previous Topic · Y Học Cổ Truyền & Vật Lý Trị Liệu · Next Topic » |


huutuanbmt


7:31 AM Jul 11