| Thông điệp: |
| MỘT CÁI QUƠ TAY CŨNG THUỘC VỀ QUÁ KHỨ. HẪY BẮT ĐẦU NGAY HÔM NAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ CHÚNG TA CÙNG TẠO NHỮNG QUÁ KHỨ , TƯƠNG LAI THẬT ĐẸP VỚI NHAU NHÉ. »»--(¯`° DIỄN ĐÀN Y KHOA ĐĂK LĂK°´¯)--»» Trước tiên BQT xin gửi lời chào đến tấc cả các bạn.Cảm ơn các bạn đã dành chút thời gian để tham gia, học hỏi, trao đổi kiến thức và xin chúc các bạn có một ngày may mắn, và nhiều vui vẻ. Diễn đàn y khoa ra đời vì mục đích giao lưu, kết bạn, học hỏi, quan tâm, chia sẽ và giúp đỡ bằng tận đáy lòng mình, mà nhất là luôn duy trì trên tinh thần học hỏi để tình cảm ấy dù ngày tháng có trôi qua. Tuổi già răng rụng tóc bạc, vẩn luôn nhớ đến nhau .^_^. hãy giúp chúng tôi xây dựng diễn đàn y khoa phát triển để làm cầu nối với nhau. Sử dụng firefox để đăng nhập dễ dàng hơn ! nếu có thắc mắc xin liên hệ trực tiếp Facbook: https://www.facebook.com/DienDanYKhoaDL forum: http://ykhoadl.tk Email: nguyenhuutuanbmt@gmail.com SĐT : - 0979464642 Thay mặt diễn đàn xin chân thành cảm ơn!!! |
| ĐÁI THÁO ĐƯỜNG ( TIÊU KHÁT ) | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: Jan 5 2017, 10:27 PM (8 Views) | |
huutuanbmt
|
Jan 5 2017, 10:27 PM Post #1 |
|
ái tháo đường là một rối loạn chuyển hóa, do nhiều nguyên nhân, đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết mãn tính, với các rối loạn chuyển hóa đường đạm, mỡ, hậu quả của sự thiếu Insulin. Có thể thiếu Insulin tuyệt đối do tế bào ß tuyến tụy bị hủy, hay thiếu Insulin tương đối do đề kháng Insulin Theo Y học cổ truyền Đái tháo đường được miêu tả trong phạm vi chứng tiêu khát Cách đây 2000 năm trước công nguyên (Hoàng Đế Nội kinh), người xưa có ghi lại nhửng biểu hiện của đường niệu bệnh, trong nhiều căn cứ và biểu hiện khác nhau trong các chứng “tiêu đơn, phế tiêu, cách tiêu, tiêu trung”. Về sau, các y gia hậu thế thường qui đái tháo đường trong phạm trù “Tiêu khát”. Nguyên nhân, cơ chế, bản chất bệnh là phụ thuộc vào bản chất bẩm phụ bất túc, tình chí thất điều, ẩm thực bất tiết, lục dâm xâm lăng, lao dục thất độ dẫn đến ngũ tạng nhu nhược, uất lâu ngày hóa hoả, tích nhiệt thương tân, hoả trước tổn âm, hao tinh thương thận. Cơ chế bệnh có liên quan đến âm tinh hao tổn, tích nhiệt nội thịnh mà dẫn đến âm hư là chủ yếu. Âm hư là bản, táo nhiệt là tiêu. Hai yếu tố này là nhân quả tương hỗ quán xuyến suốt quá trình bệnh tiêu khát. Bản chất bệnh ảnh hưởng đến nhiều cơ quan tạng phủ (nhưng chủ yếu là tạng phế, vị, thận) tức là thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu; giữa phế, vị và thận thường cho là thận quan trọng nhưng đều hỗ tương ảnh hưởng; vì vậy ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, cũng là tương hỗ với nhau. Tiêu khát lâu ngày thường dẫn đến ứ huyết nội đình, ứ huyết lại là nguyên nhân bệnh lý trở tắc cơ quan tạng phủ mà dẫn đến khí trệ huyết ứ 1. Thể Thượng tiêu - Phế âm hư Triệu chứng: Khát nhiều, miệng khô, thích uống nước mát. Tiểu nhiều, chất lưỡi đỏ, không rêu hoặc ít rêu, mạch sác Biện chứng: - Do bẩm tố tiên thiên có thể trạng âm hư cộng với thói quen ăn uống thích ăn đồ béo ngọt làm phần âm trong cơ thể ngày càng hao tổn. - Trường hợp này là Phế âm bất túc, thói quen sinh hoạt làm Phế âm ngày càng hư suy. Phế chủ khí, chủ về thông điều thuỷ đạo, trường hợp Phế âm ko đủ → Phế cơ mất chức năng tuyên giáng, thuỷ dịch trong cơ thể ko được phân bố đều khắp cơ thể mà dồn xuống trực tiếp vào bàng quang dẫn đến tiểu nhiều lần và số lượng nhiều → Cơ thể mất nhiều thể dịch nên có biểu hiện miệng khô và khát nước nhiều - Chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch sác đều là biểu hiện của hư nhiệt Pháp: Dưỡng âm nhuận phế, Sinh tân chỉ khát Phương dược: Thiên hoa phấn thang Thiên hoa phấn 36g, Sinh địa 24g, Mạch môn bỏ lõi 24g, Cam thảo 8g, Ngũ vị tử 8g. Sắc các vị thuốc lấy 600ml, bỏ bã. Chia làm 4 lần: ngày uống 3 lần, tối uống 1 lần. - Thiên hoa phấn: làm chủ quân với tác dụng ở thượng tiêu, tư âm giảm khát - Sinh địa: thanh huyết nhiệt - Cam thảo ích khí, điều hoà vị thuốc - Mạch môn sinh tân nhuận phế táo, phế âm được bổ xung tân dịch sẽ tuyên phát toàn thân mà làm giảm triệu chứng bệnh - Ngũ vị tử liễm âm để sinh tân, làm giảm đi tiểu mà giữ lại được tân dịch cho cơ thể 2. Thể Trung tiêu - Vị âm hư Triệu chứng: Ăn nhiều, mau đói, gầy nhiều. Khát, tiểu nhiều, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác Biện chứng: - Do bẩm tố tiên thiên có thể trạng âm hư cộng với thói quen ăn uống thích ăn đồ béo ngọt làm phần âm trong cơ thể ngày càng hao tổn. - Trường hợp này là vị âm hư nung đốt trung tiêu nên ăn vào mau đói, âm hư thiêu đốt làm hao tổn tân dịch nên ăn nhiều mà cơ thể vẫn gầy. - Tỳ và vị có quan hệ biểu lý, cùng ở trung tiêu, hỗ trợ nhau để vận hoá thuỷ cốc; Vị âm ko đầy đủ khiến công năng của tạng tỳ cũng bị ảnh hưởng khiến khả năng vận hoá thuỷ dịch bị suy giảm. Khí của tỳ thường thăng lên trên cùng với tinh hoa thuỷ cốc, Tỳ hư khiến thuỷ dịch ko giữ được trong cơ thể mà thoát xuống bàng quang ra ngoài → tiểu nhiều - Mặt khác Tỳ khí kém cũng dẫn đến phế khí suy mà ko thông điều thuỷ đạo, cơ thể ngày càng mất tân dịch Pháp: Dưỡng vị, sinh tân, chỉ khát Phương dược: Bài 1. Tăng dịch thang gia vị ( Huyền sâm 40g, Mạch môn 32g, Sinh địa 32g, Thiên hoa phấn 20g, Hoàng liên 08g ) - Hoàng liên tả vị hoả, làm giảm cảm giác đói - Huyền sâm, Sinh địa → thanh huyết nhiệt, sinh tân nhuận táo - Thiên hoa phấn, Mạch môn → bổ phế và vị âm, chỉ khát Bài 2. Điều vị thừa khí thang: Đại hoàng (bỏ vỏ tẩm rượu sao) 16g, Chích thảo 8g, Mang tiêu 12g. Sắc kỹ Đại hoàng với cam thảo lấy 300ml, bỏ bã, cho mang tiêu vào, đun sôi nhẹ, uống lúc thuốc còn ấm, ngày 3 lần. Bài 3. Sinh địa bát vật thang: Sinh địa 15g, Tri mẫu 8g, Hoàng cầm 6g, Hoàng bá 6g, Lá sen 8g, Sơn dược 8g, Mạch đông (bỏ lõi) 15g, Hoàng liên 6g, Đan bì 8g. Sắc uống khi thuốc còn ấm. 3. Thể Hạ tiêu - Thận âm hư Triệu chứng: Tiểu nhiều, gầy nhiều. Miệng khát, hồi hộp, ngũ tâm phiền nhiệt, chất lưỡi đỏ không rêu, mạch tế sác Biện chứng: - Do bẩm tố tiên thiên có thể trạng âm hư cộng với thói quen ăn uống thích ăn đồ béo ngọt làm phần âm trong cơ thể ngày càng hao tổn. - Trường hợp này là thận âm hư, thận là gốc của các tạng, thận âm hư khiến các tạng đều hư suy. Âm hư sinh nội nhiệt mà khiến ngũ tâm phiền nhiệt, mạch tế mà sác - Thận chủ thuỷ, thận suy thì chức năng khí hoá rối loạn, bàng quang không được chế ước nên tiểu nhiều Pháp: Dưỡng âm sinh tân, nhuận táo thanh nhiệt Phương dược: Lục vị địa hoàng gia giảm - Sinh địa, Kỷ tử lương huyết, ích thận thuỷ. - Hoài sơn → hỗ trợ công năng của tỳ vị - Sơn thù, Đan bì → thanh nhiệt ở can kinh, vì thận âm hư sẽ dẫn tới can âm hư - Thạch hộc, Sa sâm bổ phế âm. - Thiên hoa phấn sinh tân chỉ khát Cả bài thuốc có vị ngọt tính lương tác dụng tráng thuỷ. Thận thuỷ khoẻ mạnh thì hư nhiệt sẽ tự hết mà chứng tiêu khát cũng giảm Gia giảm : - Khát nước nhiều, tạm thời có thể thêm Thạch cao 20g - Tiểu nhiều thêm Tang phiêu tiêu 8g, Ngũ vị tử 6g 4. Ở giai đoạn sau của bệnh - Thận dương hư Khi phần âm bị hao tổn nhiều làm dương khí dần suy giảm, các triệu chứng lâm sàng điển hình của chứng tiêu khát dần bị lu mờ, thay vào đó, bệnh nhân sẽ có các biểu hiện của Thận dương hư hoặc Thận âm, thận dương lưỡng hư. Đây là thể bệnh khá phổ biến trên lâm sàng hiện nay Triệu chứng: Miệng khát, không muốn uống nước. Mệt mỏi, đoản khí Sợ lạnh, chân tay lạnh. Phù mặt hoặc chân, sắc mặt u ám. Tai khô, răng lung lay muốn rụng. Không muốn ăn, Liệt dương. Đại tiện lỏng hoặc lúc lỏng lúc táo, Tiểu tiện đục, lượng nhiều. Chất lưỡi đạm tía, rêu lưỡi trắng khô, mạch trầm vi vô lực. Biện chứng: Người già nam trên 64 tuổi, nữ trên 49 tuổi, thiên quý kiệt, tiên thiên bất túc lại thêm không chú ý bảo dưỡng làm hậu thiên thất dưỡng hoặc phòng dục quá độ làm tổ thương chân âm, nguyên dương khiến tinh huyết bất túc, ngũ tạng hư yếu nêntinh khí của ngũ tạng đưa đến tàng chứa ở Thận giảm sút dẫn tới tinh khuy dịch kiệt. Hoặc do dùng thuốc ôn táo kéo dài làm hao tổn âm dịch, làm hại chân âm, âm không tiềm dương - ảnh hưởng đến Thận dương.Thận dương hư nên: miệng khô khát nhưng không muốn uống nước, rêu lưỡi khô, sợ lạnh, chân tay lạnh, phù mặt hoặc chân, sắc mặt u ám, chất lưỡi đậm tía, rêu lưỡi trắng. Tinh huyết bất túc, ngũ tạng hư yếu nên khí huyết không đủ để nuôi dưỡng cơ thể nên mệt mỏi, đoản khí, mạch trầm vi vô lực. Thận chủ về cốt tuỷ, tinh huyết bất túc không nuôi dưỡng được cân cốt nên răng lung lay muốn rung. Ngoài ra, Thận khai khiếu ra tai, thận tinh hư tổn nên tai khô. Thận chủ về quá trình sinh dục và phát dục của cơ thể —> Thận tinh hư tổn nên Liệt dương. Thận dương hư không khí hoá được thuỷ làm cho Thuỷ dịch đình lại trong cơ thể làm tổn thương đến chức năng vận hoá của Tỳ (Thấp khốn Tỳ) —> Tỳ vận hoá thất thường gây ra nê trệ nên bệnh nhân Không muốn ăn, Đại tiên lỏng hoặc lúc lỏng lúc táo. Thận dương hư không trưng đốt được thuỷ dịch, thanh trọc không phân hoá được, lẫn lộn nhau dồn xuống bàng quang ra ngoài gây ra tiểu tiện đục, lượng nhiều. Pháp: bổ dương, ích khí, dưỡng thận Phương: Thận khí hoàn gia giảm Sinh địa 320g, Hoài sơn 160g, Sơn thù 160g, Trạch tả120g, Bạch linh 120g, Đan bì 120g, Phụ tử chế 40g, Quế chi 40g, Kim anh tử 40g, Hoàng kỳ 120g, Khiếm thực 40g, Thiên hoa phấn 120g Tất cả tán bột mịn, luyện mật làm hoàn, uống 8 - 12g/lần x 2 - 3 lần/ngày với nước ấm hoặc nước muối nhạt. Ngoài ra có thể làm thang với liều lượng thích hợp, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần. Phân tích: Phụ tử, quế chi ôn bổ thận dương là chủ dược. Bài lục vị tư bổ thận âm, điều hòa âm dương làm cho thận khí được sung túc. Hoàng kỳ bổ khí thăng dương Gia giảm : Thận dương hư nhiều: đau lưng, mỏi gối, tiểu tiện nhiều lần, lượng nước tiểu nhiều, di tinh, gia: Ích trí nhân 10g, Phúc bồn tử 10g. Nếu kiêm tỳ dương hư: người mệt mỏi, đầy bụng, đại tiện phân nát, gia: Đảng sâm 12g, Bạch truật 12g. Khí uất, thấp trở: ngực sườn đầy tức, bụng trướng, chất lưỡi đạm nhạt, có điểm ứ huyết, rêu lưỡi nhớt, gia: Sài hồ 12g, Thạch vĩ 12g. Âm dương, khí huyết đều hư: người mệt mỏi, đoản khí, đoản hơi, ăn kém, đầy bụng, chậm tiêu, sắc mặt nhợt, tiểu tiện nhiều lần, nước tiểu đục, gia: Đương quy 12g, Kỷ tử 12g. Châm cứu: ít dùng vì có thể gây nhiễm trùng thứ phát. Châm bổ: thận du, thái khê, túc tam lý, tam âm giao. Thời gian: 15 phút/lần x 1 lần/ngày. Nhĩ châm: nội tiết, thận, bàng quang. Thời gian: 15 phút/lần x 1 lần/ngày.Mai hoa châm: gõ dọc kinh bàng quang 2 bên cột sống vùng thắt lưng, kích thích vừa, mỗi lần 5-10 phút. Gõ cách nhật hoặc hàng ngày. Khí công - dưỡng sinh: sử dụng phương pháp luyện ý, luyện thở, luyện hình thể. Thời gian: tối đa 30 phút/lần x 1 - 2 lần/ngày. Xbbh vùng lưng, tứ chi: 20 - 30 phút/lần x 1 - 2 lần/ngày. 5 LỜI KHUYÊN VỀ DINH DƯỠNG TRONG KIỂM SOÁT TIỂU ĐƯỜNG 1. Sử dụng các chất bột đường phức hợp Các chất bột đường phức hợp cần thời gian lâu hơn để phân tách ra trong cơ thể. Năng lượng tiêu hóa chậm sẽ được hấp thu chậm và đều hơn. Nồng độ đường giúp giảm thiểu tối đa các đỉnh nồng độ đường trong máu Tại sao Phức hợp các chất bột đường lại quan trọng: Phức hợp các chất bột đường cần thời gian lâu hơn để phân tách ra trong cơ thể, cho phép glucose được hấp thu chậm hơn, giúp kiểm soát nồng độ đường huyết. Các nguồn cung cấp tốt: Bánh mì ngũ cốc nguyên hạt, mì ống, và ngũ cốc; trái mơ, mận, lê, hầu hết các loại rau củ, đậu (đậu hạt, đậu hòa lan, đậu lăng), và các sản phẩm bơ sữa ít béo. 2. Dùng thêm chất xơ Chất xơ kiểm soát nồng độ đường huyết, giảm nguy cơ bệnh tim mạch Tại sao chất xơ lại quan trọng: Chế độ ăn nhiều chất xơ có thể giúp bạn no lâu hơn và giúp kiểm soát nồng độ đường huyết của bạn. Chất xơ cũng giúp kiểm soát cholesterol, làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch — một biến chứng nặng của bệnh tiểu đường. Các nguồn cung cấp tốt: Các loại trái cây có vỏ, các loại đậu (đậu hạt, đậu hòa lan, đậu lăng), khoai lang có vỏ, gạo lứt, mì sợi từ bột mì nguyên cám, bánh mì nâu, và các loại hạt ngũ cốc có chứa chất xơ. 3. Ăn nhiều thức ăn có chứa Omega-3 Giúp giảm viêm Giúp hạ huyết áp Tại sao Omega-3 lại quan trọng: Các acid béo Omega-3 đã được chứng minh là giúp hạ huyết áp, giảm viêm, và giảm nguy cơ bệnh tim, đặc biệt khi bạn mắc bệnh tiểu đường. Các nguồn cung cấp tốt: Cá hồi, quả óc chó, đậu nành, cá ngừ, cá trích, dầu canola và dầu hạt óc chó, hạt lanh, và các viên bổ sung dầu cá. 4. Hãy chọn các loại thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp Các loại thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp sẽ có nồng độ đường thấp hơn Tại sao các loại thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp lại quan trọng: Các loại thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp có thể giúp hạ thấp nồng độ đường huyết của bạn, làm cho A1C hạ xuống thấp hơn theo thời gian. Các nguồn cung cấp tốt: Các loại đậu hạt, bánh mì ngũ cốc nguyên hạt, bột cám yến mạch, gạo lứt, khoai lang, cà rốt tươi, nấm, đậu xanh, cà chua, và rau diếp 5. Hãy tiêu thụ nhiều ma-giê Ma-giê Giúp phân tách các carbohydrate Tại sao Magiê lại quan trọng: Magiê giữ một vai trò thiết yếu trong việc cắt đoạn các chất bột, đường (carbohydrate). Một số nghiên cứu cho thấy các bệnh nhân bị tiểu đường có thể có nồng độ magiê thấp. Trong các trường hợp này, viên uống bổ sung có thể là lựa chọn tốt. Các nguồn cung cấp tốt: Rau chân vịt, đậu hũ, hạt dẻ, bông cải xanh, yến mạch, hạt điều, cá bơn, đậu lăng, hạt bí ngô, và hạt hoa hướng dương |
|
|
| 1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous) | |
| « Previous Topic · Y Học Cổ Truyền & Vật Lý Trị Liệu · Next Topic » |


huutuanbmt


7:31 AM Jul 11