Welcome Guest [Log In] [Register]
Thông điệp: Hay post bai va ung ho forum phat trien di cac ban........
MỘT CÁI QUƠ TAY CŨNG THUỘC VỀ QUÁ KHỨ. HẪY BẮT ĐẦU NGAY HÔM NAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ CHÚNG TA CÙNG TẠO NHỮNG QUÁ KHỨ , TƯƠNG LAI THẬT ĐẸP VỚI NHAU NHÉ.

»»--(¯`° DIỄN ĐÀN Y KHOA ĐĂK LĂK°´¯)--»»

Trước tiên BQT xin gửi lời chào đến tấc cả các bạn.Cảm ơn các bạn đã dành chút thời gian để tham gia, học hỏi, trao đổi kiến thức và xin chúc các bạn có một ngày may mắn, và nhiều vui vẻ.

Diễn đàn y khoa ra đời vì mục đích giao lưu, kết bạn, học hỏi, quan tâm, chia sẽ và giúp đỡ bằng tận đáy lòng mình, mà nhất là luôn duy trì trên tinh thần học hỏi để tình cảm ấy dù ngày tháng có trôi qua. Tuổi già răng rụng tóc bạc, vẩn luôn nhớ đến nhau .^_^.

hãy giúp chúng tôi xây dựng diễn đàn y khoa phát triển để làm cầu nối với nhau.
Sử dụng firefox để đăng nhập dễ dàng hơn !

nếu có thắc mắc xin liên hệ trực tiếp

Facbook: https://www.facebook.com/DienDanYKhoaDL
forum: http://ykhoadl.tk
Email: nguyenhuutuanbmt@gmail.com

SĐT : - 0979464642
Thay mặt diễn đàn xin chân thành cảm ơn!!!





Username:   Password:
Add Reply
Hội Chứng Tiền Đình ( Huyễn Vựng )
Topic Started: Jan 5 2017, 10:28 PM (23 Views)
Posted Imagehuutuanbmt
Member Avatar

Đại cương

Huyễn là hoa mắt, vựng là chóng mặt, chòng chành mọi vật xoay chuyển, nghiêng ngả không yên người như muốn ngã. Dân gian thường gọi chung là hoa mắt chóng mặt. Nhẹ thì hết ngay khi nhắm mắt, nặng thì kèm thêm buồn nôn, nôn, toát mồ hôi, ngã lăn ra. . .
Tố vấn chí chân yếu đại luận viết : " chư phong tác huyễn giai vu thuộc can" ý nói các loại phong gây huyễn vựng đều do can phong nội động sinh ra, chữa can là chính

Hà gian lục thư ghi: " phong hoả giai dương, dương đa kiêm hoả, dương chủ hô động, lưỡng dương tương bác tắc vi tuyền chuyển" ý nói phong và hoả đều thuộc dương, dương thường kiêm hoả, dương chủ về động, hai dương ( phong và hoả ) tương bác với nhau tất gây ra huyễn vựng, chữa hoả là chính

Đan khê tâm pháp viết : " vô đờm bất tác huyền " nghĩa là không có đờm thì không gây huyễn vựng cho nên ông chủ trương chữa đờm là chính
Hải Thượng Lãn Ông trong y trung quan kiện viết: " bệnh chóng mặt trong phương thư đều chia ra phong , hàn, thử, thấp, khí, huyết, đờm để chữa, đại ý không ngoài chữ hoả. Âm huyết hậu thiên hư thì hoả động lên, chân thuỷ tiên thiên suy thì hoả bốc lên, bệnh nhẹ thì chữa hậu thiên, bệnh nặng thì chữa tiên thiên". Cảnh Nhạc toàn thư viết : " vô hư bất tác huyễn, vô hoả bất tác vựng ", nghĩa là không hư thì không hoa mắt, không có hoả thì không gây chóng mặt vậy huyễn vựng là do hư hợp với hoả gây nên, phép chữa bổ hư giáng hoả

Theo YHHĐ huyễn vựng (hội chứng me-ni e) có thể do rất nhiều bệnh khác nhau như cao huyết áp, xơ cứng động mạch não, thiếu máu, suy nhược thần kinh, rối loạn tiền đình, bệnh ở não, bệnh ở tai trong . . .
Tóm lại người xưa cho rằng bệnh này thường do phong, hoả, đờm và hư gây nên . Trên lâm sàng chia bệnh làm 5 thể là can dương thượng cang, đờm trọc trung trở, thận tinh bất túc, khí huyết hư, thuỷ ẩm ứ đọng

1. Thể Can dương thượng cang
1.1. Nguyên nhân:
- Can dương vốn thịnh, dương khí bốc lên gây chóng mặt
- Tình chí uất ức lâu ngày, uất lâu hoá hoả làm can âm hao tổn, can dương thượng kháng, nhiễu loạn thanh không gây chóng mặt
- Thận thuỷ hư không nuôi dưỡng được can mộc, làm can âm hư , can dương thượng kháng gây chóng mặt
Ba nguyên nhân này có thể là nhân quả lẫn nhau như can dương thịnh sẽ làm can âm hư tổn, can âm hư tổn lâu ngày sẽ làm thận âm cũng hư tổn, thận âm hư tổn ngược lại sẽ làm cho can âm càng hư tổn thêm mặt khác can dương thịnh can âm suy sẽ làm cho người ta tình chí hay cáu giận uất ức, uất lâu lại hoá hoả..vì vậy trong khi điều trị nên đồng thời chú ý dự phòng cả 3 nhân tố trên ( trị vị bệnh )
1.2. Triệu chứng:
Huyễn vựng, ù tai, đau đầu, căng mắt, mặt lúc đỏ lúc không, cáu gắt, ngủ ít mơ màng, miệng đắng, lưỡi đỏ rêu vàng hoặc ít rêu, mạch huyền, huyền tế đới sác, khi giận dữ thì bệnh nặng lên
1.3. Biện chứng luận trị :
Huyễn vựng, ù tai, đau đầu căng mắt là do can dương thượng cang nhiễu loạn thanh khiếu, dương thăng bập bùng nên mặt lúc đỏ lúc không, mạch huyền, miệng đắng, lưỡi đỏ rêu vàng, là biểu tượng của can dương vượng, lưỡi đỏ ít rêu, ít ngủ mơ màng mạch huyền tế đới sác là âm hư hoả viêm, khi giận dữ thì bệnh nặng lên là vì khi giận thì can khí nghịch lên trợ hoả thượng cang
1.4. Pháp điều trị : Tư âm thanh nhiệt, bình can tức phong
1.5. Phương dược : THIÊN MA CÂU ĐẰNG ẨM
Thiên ma 6g
Câu đằng 12g
Chi tử 8g
Hoàng cầm 12g
Dạ giao đằng 16g
Phục thần 12g
Thạch quyết minh 20g
Ngưu tất 12g
Ích mẫu 16g
Đỗ trọng 12g
Tang kí sinh 16g​
Thiên ma, câu đằng: bình can tiềm dương; Chi tử, hoàng cầm: Thanh tiết can nhiệt; Da giao đằng, phục thần, thạch quyết minh an thần định trí; Ngưu tất, ích mẫu: hoạt huyết, giãn mạch; Đỗ trọng, tang kí sinh: bổ ích can thận.
Gia giảm:​
- Nếu mắt đỏ mạch huyền sác, huyết áp cao là can hoả quá mạnh gia thêm long đởm thảo, hạ khô thảo, Hoàng Cầm để thanh can tiết nhiệt, Mộc thông, Sa tiền, trạch tả để lợi tiểu giải nhiệt hạ huyết áp
- Chân tay máy động là phong quá thịnh gia qui bản, Mẫu lệ để chấn can tức phong
1.6. Châm cứu :
Châm: thái xung, thái khê, dương lăng tuyền, phong trì, nội quan, thần môn, tam âm giao. Tại chỗ: nhức đầu châm huyệt: đầu duy, thái dương, bách hội.
Nhĩ châm: điểm hạ áp, can thận
1.7. Dưỡng sinh :
Nên tập nằm thư giãn để tăng cường khả năng ức chế ( bổ âm )
Giữ cho tâm tình được thư thái, tránh những kích thích về tâm lý, như cáu giận, căng thẳng, đối địch, cố chấp.. . Người bệnh có thể thay đổi hoàn cảnh công tác, không nên đòi hỏi quá cao, mở rộng xã giao, cởi mở tâm tình, đi du lịch, nghe nhạc nhẹ nhàng . . .
Không nên ăn các đồ ăn kích thích như ớt, thịt chó, đồ nướng cháy, uống rượu, cà phê, thuốc lá . . .
Nên ăn thanh đạm, nhiều rau tươi, hoa quả mát như lê, táo. . .

2. Thể khí huyết hư
2.1. Nguyên nhân : Người bị bệnh lâu ngày không khỏi, hoặc mới bị bệnh nặng, hoặc mới mổ, mới sinh con khí huyết bị hao tổn hoặc mất máu, hư không hồi phục, hoặc tỳ vị hư nhược không sinh được khí huyết làm khí huyết đều hư. Khí hư thì thanh dương không lên được não, huyết hư thì não không được nuôi dưỡng đều gây nên huyễn vựng
2.2. Triệu chứng : Sắc mặt xanh hoặc vàng úa, hồi hộp, ngủ ít, mệt mỏi, hay quên ăn kém, lưỡi nhạt ít rêu, móng tay móng chân không tươi, chóng mặt hoa mắt, mệt mỏi, tiếng nói nhỏ, ngại nói, kinh nguyệt không đều, lượng ít, sắc nhạt mạch tế nhược.
2.3. Pháp điều trị : Bổ dưỡng khí huyết kiện tỳ vị
2.4. Phương dược : BÁT TRÂN THANG GIA GIẢM
2.5. Châm cứu : Châm các huyệt Bách hội, Phong trì, Định huyễn, Cách du, Huyết hải, Túc tam lý, Nội quan, Tam âm giao
Tránh lo nghĩ, vì lo nghĩ sẽ làm hại đến tỳ, làm tiêu hao khí huyết, mất ngủ. Bệnh càng thêm nặng

3. Thể Đàm trọc trung trở
3.1. Nguyên nhân: Do ăn nhiều thứ béo ngọt làm tỳ vị bị tổn thương không vận hoá được đồ ăn thành tinh chất để nuôi cơ thể mà đọng tụ lại thành đờm thấp. Đờm thấp ngăn trở làm thanh dương không thăng, trọc âm không giáng gây huyễn vựng
3.2. Triệu chứng: Người béo trệ, chóng mặt, lợm giọng buồn nôn, ngực bụng đầy buồn, đầu nặng, ngủ li bì, ăn kém, sáng dậy khạc đờm, miệng nhạt, Lưỡi non bệu rêu dính, mạch nhu hoạt
3.3. Biện chứng (hay gặp ở người béo có cholesterol máu cao)Do ăn uống nhiều chất các chất ngọt béo làm tổn thương Tỳ Vị khiến chức năng vận hoá của Tỳ suy giảm → đàm thấp nội sinh nên phát bệnh. Hoặc uống nhiều rượu làm thấp trọc sinh ra lâu ngày hoá nhiệt, nhiệt nung nấu tân dịch thành đàm, đàm lại làm rối loạn chức năng kiện vận của tỳ vị… làm thanh dương bất thăng, trọc âm bất giáng mà gây nên chứng huyễn vựng. Do đàm tích trệ lại trong cơ thể mà người béo mập. Đàm có bản chất là trệ, làm cản trở sự vận hành của khí cơ, làm khí cơ của tạng phủ không thông sướng nên nhực sườn đầy tức, hay lợm giọng buồn nôn . Đàm làm cản trở sự vận hành của khí huyết toàn thân nên chân tay nặng nề, cảm giác rã rời, vô lực, mạch huyền hoạt. Đàm là do thấp hóa thành nên có tính chất như thấp nên rêu lưỡi dính, miệng nhạt, mạch huyền hoạt. Do vậy trừ được đàm thấp sẽ khiến Tỳ mạnh lên (Tỳ ưa ráo ghét thấp), và đàm trọc làm ảnh hưởng khí cơ, làm khí trệ, khí thanh không thăng, trọc âm không giáng nên pháp điều trị là: kiện tỳ, trừ thấp hóa đàm
3.4. Pháp điều trị : Kiện tỳ trừ thấp, hoá đờm tức phong
3.5. Phương dược: BÁN HẠ BẠCH TRUẬT THIÊN MA THANG GIA GIẢM
( Bán hạ chế 6g, Trần bì 6g, Cam thảo 6g, Phục linh 8g, Thiên ma 16g, Câu đằng 16g, Hoa hòe 16g, Tang ký sinh 16g, Ý dĩ nhân 16g, Ngưu tất 16g, Bạch truật 12g )
Bán hạ, trần bì: chỉ khái hoá đàm; Thiên ma, câu đằng: bình can tức phong; Ngưu tất: hoạt huyết; Ý dĩ, bạch truật: kiện tỳ trừ thấp; Cam thảo: điều hoà các vị thuốc.
Nếu đàm thấp hóa hỏa ( đàm hỏa, đàm nhiệt ) dùng bài “ Ôn đởm thang gia giảm “.
3.6. Châm: túc tam lý, túc lâm khấp, dương lăng tuyền, can du, đởm du, phong long.
3.7. Dưỡng sinh :
Nên tập các động tác xoay mình vặn sườn qua lại, xoa lườn, xoa bụng . . . có tác dụng kiện tỳ tiêu đờm
Nên ăn bí đao, dứa, khoai sọ, sứa biển, lươn, trạch, ý dĩ, có tác dụng lợi thuỷ, long đờm
Nên ăn uống thanh đạm, kiêng các loại đồ ăn quá béo, quá ngọt dễ sinh đờm

4. Thể Thận hư
4.1. Triệu chứng: Huyễn vựng, tinh thần mệt mỏi, hay quên, lưng mỏi chân yếu, di tinh, ù tai, mất ngủ, nhiều mộng
- Nếu thiên về dương hư thì chân tay lạnh, lưng lạnh, tinh thần uỷ mị, lưỡi nhạt, mạch trầm tế
- Nếu thiên về âm hư thì ngũ tâm phiền nhiệt, lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế
4.2. Biện chứng (hay gặp tăng huyết áp người già . xơ cứng động mạch) Do tuổi cao, thận tinh suy giảm hoặc do khi còn trẻ phòng sự quá độ làm ả/h đến thận tinh. Thận tinh suy giảm khiến Can âm ko đc tư dưỡng, âm ko đủ tiềm dương làm cho Can dương vượng lên mà gây bệnh. Can dương vượng lên che lấp khiếu trên mà gây ra các chứng như: đau đầu, hoa mắt chóng mặt, ù tai
4.3. Pháp điều trị :
- Dương hư : bổ thận trợ dương
- Âm hư : bổ thận tư âm
4.4. Phương :
A. Bổ dương: dùng bài HỮU QUI HOÀN
Qui đầu 12g
Lộc giác 16g
Đỗ trọng 16g
Nhục quế 8-16g
Thục địa 30g
Kỉ tử 16g
Thỏ ti tử 16g
Phụ tử 8-16g
Hoài sơn 15g
Sơn thù 15g​
Tất cả tán mịn, Thục địa giã nát chưng lấy cao luyện mật làm hoàn, mỗi hoàn nặng 15g uống lúc đói, ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều, mỗi lần 1 hoàn
Châm cứu : Bách hội, Phong trì, Định huyễn, Tam âm giao, Thận du, Mệnh môn
B. Bổ âm : dùng bài KỶ CÚC ĐỊA HOÀNG HOÀN​
Châm cứu : Bách hội, Phong trì, Định huyễn, Tam âm giao, Thận du
4.5. Dưỡng sinh : xoa xát vận động vùng đầu và lưng mông và bụng dưới ( các huyệt Thận du, Mệnh môn, Chí thất, Quan nguyên, Khí hải ...)
Giảm bớt tình dục để bảo tồn tinh khí . . .
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous)
« Previous Topic · Y Học Cổ Truyền & Vật Lý Trị Liệu · Next Topic »
Add Reply

tuan.eakaoSuport Online Tuan.EakaoSuport Online