| Thông điệp: |
| MỘT CÁI QUƠ TAY CŨNG THUỘC VỀ QUÁ KHỨ. HẪY BẮT ĐẦU NGAY HÔM NAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ CHÚNG TA CÙNG TẠO NHỮNG QUÁ KHỨ , TƯƠNG LAI THẬT ĐẸP VỚI NHAU NHÉ. »»--(¯`° DIỄN ĐÀN Y KHOA ĐĂK LĂK°´¯)--»» Trước tiên BQT xin gửi lời chào đến tấc cả các bạn.Cảm ơn các bạn đã dành chút thời gian để tham gia, học hỏi, trao đổi kiến thức và xin chúc các bạn có một ngày may mắn, và nhiều vui vẻ. Diễn đàn y khoa ra đời vì mục đích giao lưu, kết bạn, học hỏi, quan tâm, chia sẽ và giúp đỡ bằng tận đáy lòng mình, mà nhất là luôn duy trì trên tinh thần học hỏi để tình cảm ấy dù ngày tháng có trôi qua. Tuổi già răng rụng tóc bạc, vẩn luôn nhớ đến nhau .^_^. hãy giúp chúng tôi xây dựng diễn đàn y khoa phát triển để làm cầu nối với nhau. Sử dụng firefox để đăng nhập dễ dàng hơn ! nếu có thắc mắc xin liên hệ trực tiếp Facbook: https://www.facebook.com/DienDanYKhoaDL forum: http://ykhoadl.tk Email: nguyenhuutuanbmt@gmail.com SĐT : - 0979464642 Thay mặt diễn đàn xin chân thành cảm ơn!!! |
| Viêm Phế Quản Mạn ( Khái Thấu ) | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: Jan 5 2017, 10:29 PM (24 Views) | |
huutuanbmt
|
Jan 5 2017, 10:29 PM Post #1 |
|
VIÊM PHẾ QUẢN MẠN ( KHÁI THẤU ) Thường gặp viêm phế quản mạn ở người trung niên và người cao tuổi. Bụi ảnh hưởng nhiều đến viêm phế quản mạn, tỷ lệ mắc bệnh cao rõ rệt ở công nhân các công trường nhiều khói bụi, dân thành phố mắc bệnh cao hơn ở nông thôn, ngoại trừ trường hợp những phụ nữ nông thôn nấu nướng trong nhà bếp thiếu thông thoáng, không ống khói, chất đốt tạo nhiều bụi bặm, ở miền núi tỷ lệ thấp hơn ở đồng bằng. Về thời tiết, mùa lạnh làm tăng số người mắc viêm phế quản mạn. Viêm phế quản là một bệnh hay gặp thuộc phạm vi của chứng khái thấu , đàm ẩm của y học cổ truyền được chia làm hai thể cấp tính và mạn tính. Hai từ 'khái" và 'thấu" có nghĩa khác nhau: Khái là có tiếng mà không có đờm, còn thấu là có đờm mà không có tiếng, nhưng thường đi đôi với nhau nên gọi là chứng ‘khái thấu ‘'“Khái là ho không có đờm mà có tiếng vì Phế khí tổn thương cho nên tiếng không thanh. Thấu là không có tiếng mà có đờm vì Tỳ thấp khuấy động nên sinh ra đờm. Khái thấu là vừa có tiếng vừa có đờm vì Phế khí tổn thương lại quấy động đến Tỳ thấp”. Viêm phế quản mạn theo Yhct được chia làm 2 thể Đàm thấp và Thủy ẩm 1. Đàm Thấp - Triệu chứng: ho hay tái phát, trời lạnh ho tăng, đờm trắng dễ khạc, sắc trắng loãng hoặc đờm thành cục dính, buổi sáng ho nhiều, ngực đầy, tức , kém ăn, rêu lưỡi trắng dính, mạch nhu hoạt. - Biện chứng: do công năng 3 tạng phế, tỳ, thận giảm sút trong đó ăn uống bât điều làm Tỳ mất kiện vận, hàn thấp thương tỳ sinh đàm ẩm có biểu hiện đờm thành cục dính, kém ăn, rêu lưỡi trắng dính. Khí phong hàn làm phế tổn thương cộng với đàm ẩm tích lại ở phế mà có biểu hiện: ho hay tái phát, trời lạnh ho tăng, đờm trắng dễ khạc, sắc trắng loãng , buổi sáng ho nhiều, ngực đầy tức , mạch nhu hoạt. - Pháp: táo thấp hoá đàm chỉ khái - Phương dược : Nhị trần thang gia giảm Bán hạ 08g Trần bì 10g Phục linh 16g Cam thảo 04g Hạnh nhân 12g Thương truật 08g Bạch truật 12g Bán hạ tính tân ôn, táo để táo thấp hoá đờm, giáng nghịch , hoà vị. Trần bì lý khí táo thấp, khí thuận thì thấp đờm tiêu. Phục linh kiện tỳ thẩm thấp, thấp trừ được thì tỳ vượng sẽ không sinh đờm. Cam thảo điều hoà các vị thuốc, nhuận phế hoà trung. Hạnh nhân , thương truật, bạch truật để ôn phế chỉ khái, kiện tỳ, táo thấp, phối hợp điều trị triệu chứng ho và kiện tỳ trừ đàm. * Nếu đờm nhiều gia : bạch giới tử 08g, tức ngực thêm chỉ xác 12g, nếu tỳ hư không khống chế được thấp , không vận hoá thuỷ cốc sinh đàm dùng “Nhị trần thang” gia Đảng sâm 16g, bạch truật 12g, tử uyển 8g, bạch thược 8g. * Nếu tỳ thận dương hư gây ho đờm nhiều, ngực sườn đầy chướng, miệng khát không muốn uống, uống hay bị nôn, lưng lạnh chân tay lạnh, chóng mặt,thở ngắn hồi hộp, lưỡi bạc, rêu lưỡi trắng trơn, mạch huyền hoạt dùng bài Linh quế truật cam thang gia giảm: Bạch truật 08g, Cam thảo 04g, Phục linh 16g, Quế chi 12g Gia : nếu hoa mắt hồi hộp thêm Bán hạ chế 8g, sinh khương 4g, nếu chân tay lạnh gia Phụ tử chế 8- 12g, Can khương 4g, Bạch thược 12g. - Châm bổ hoặc cứu : tỳ du, phế du, thận du, túc tam lý, hợp cốc, tam âm giao, châm ngày một lần x 7 ngày là một liệu trình sau đó tiếp tục liệu trình khác. 2. Thủy Ẩm - Triệu chứng : ho hay tái phát, thở xuyễn, trời lạnh ho tăng, nhiều ran ẩm, đờm nhiều trắng loãng, càng vận động càng tăng triệu chứng khó thở có thể ko nằm được, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng trơn, mạch tế nhược. - Biện chứng: Thuỷ ẩm ứ đọng ở vùng ngực và phổi, phần nhiều do đàm ẩm vốn thịnh, lâu ngày ko chữa khỏi lại cảm nhiễm ngoại tà, Phế khí không được tuyên giáng thanh túc, ẩm tà theo khí nghịch lên gây nên bệnh Thủy ẩm có chứng trạng trên. - Pháp: Ôn phế hóa đàm - Phương dược : Tiểu thanh long thang gia giảm Ma hoàng 6g Quế chi 6g Can khương 4g Tế tân 4g Ngũ vị tử 6g Bạch thược 8g Bán hạ chế 8g Cam thảo 4g Ma hoàng, quế chi phát hãn, giải biểu, tuyên phế ; Can khương, tế tân để ôn phế hoá ẩm giúp phát hãn ; Ngũ vị tử liễm phế khí ; Bạch thược dưỡng huyết ; Bán hạ chế khử đờm hoà vị ; Cam thảo ích khí hoà trung. Gia: Ho nhiều thêm Tử uyển 12g, Khoản đông hoa 08g. Có ran ứ đọng nhiều thêm Đình lịch tử 12g. - Cứu: tỳ du, vị du, phế du, cao hoang, túc tam lý, phong long, thái bạch. |
|
|
| 1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous) | |
| « Previous Topic · Y Học Cổ Truyền & Vật Lý Trị Liệu · Next Topic » |


huutuanbmt


7:24 AM Jul 11