Welcome Guest [Log In] [Register]
Thông điệp: Hay post bai va ung ho forum phat trien di cac ban........
MỘT CÁI QUƠ TAY CŨNG THUỘC VỀ QUÁ KHỨ. HẪY BẮT ĐẦU NGAY HÔM NAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ CHÚNG TA CÙNG TẠO NHỮNG QUÁ KHỨ , TƯƠNG LAI THẬT ĐẸP VỚI NHAU NHÉ.

»»--(¯`° DIỄN ĐÀN Y KHOA ĐĂK LĂK°´¯)--»»

Trước tiên BQT xin gửi lời chào đến tấc cả các bạn.Cảm ơn các bạn đã dành chút thời gian để tham gia, học hỏi, trao đổi kiến thức và xin chúc các bạn có một ngày may mắn, và nhiều vui vẻ.

Diễn đàn y khoa ra đời vì mục đích giao lưu, kết bạn, học hỏi, quan tâm, chia sẽ và giúp đỡ bằng tận đáy lòng mình, mà nhất là luôn duy trì trên tinh thần học hỏi để tình cảm ấy dù ngày tháng có trôi qua. Tuổi già răng rụng tóc bạc, vẩn luôn nhớ đến nhau .^_^.

hãy giúp chúng tôi xây dựng diễn đàn y khoa phát triển để làm cầu nối với nhau.
Sử dụng firefox để đăng nhập dễ dàng hơn !

nếu có thắc mắc xin liên hệ trực tiếp

Facbook: https://www.facebook.com/DienDanYKhoaDL
forum: http://ykhoadl.tk
Email: nguyenhuutuanbmt@gmail.com

SĐT : - 0979464642
Thay mặt diễn đàn xin chân thành cảm ơn!!!





Username:   Password:
Add Reply
Hen Phế Quản ( Háo Suyễn )
Topic Started: Jan 5 2017, 10:30 PM (24 Views)
Posted Imagehuutuanbmt
Member Avatar

HÁO SUYỄN
Posted Image

- Theo Y học hiện đại hen phế quản là tình trạng viêm mạn tính ở đường thở, có sự tham gia của nhiều loại tế bào viêm và các thành phần của tế bào, chủ yếu là tế bào Mast, bạch cầu ái toan (E), lymphoT, đại thực bào, bạch cầu đa nhân trung tính (N) và các tế bào biểu mô phế quản. ở những cơ địa nhạy cảm. Quá trình viêm này gây khó thở rít, ho, tức ngực từng đợt tái diễn, thường bị về đêm và sáng sớm. Những đợt này thường bị tắc nghẽn đường thở có thể tự hồi phục hoặc do điều trị. Quá trình viêm này hay đi kèm theo tăng tính phản ứng phế quản với nhiều tác nhân kích thích gây co thắt cơ trơn phế quản.

- Hen phế quản hay hen suyễn theo Y học cổ truyền thuộc chứng Háo Suyễn - Háo Rỗng, tức là khí không được liễm nạp về thận, tỳ dương hư yếu thủy thấp ứ đọng sinh ra đờm. Trong cổ họng phát ra tiếng gọi là háo (hen) thở hít gấp gáp, khí đưa lên nhiều mà đưa xuống ít gọi là suyễn.
Chứng hen suyễn phát sinh do 4 nguyên nhân:
1. Do Ngoại Tà xâm nhập : Thường gặp loại Phong hàn và phong nhiệt. Phong hàn phạm vào Phế khiến Phế khí bị ủng tắc thăng giáng thất thường, nghịch lên thành suyễn. Phong nhiệt từ đường hô hấp vào Phế hoặc phong hàn bị uất lại hoá thành nhiệt không tiết ra được gây ngưng trệ ở phế thành Háo suyễn.
2. Do Phế Thận Hư Yếu: Do ho lâu ngày hoặc bệnh lâu ngày làm Phế bị suy, phế khí và đường hô hấp bị trở ngại gây nên suyễn. Hoặc do Thận hư yếu không nhuận được Phế, không nạp được khí gây nên suyễn. Như vậy bệnh suyễn chủ yếu ở Phế, có quan hệ với Thận và nếu nặng hơn có quan hệ cả với Tâm. Vì theo Nội Kinh: mọi chứng ho, đầy tức, hơi thở đều thuộc về Phế. Phế chủ khí, khí chủ thăng giáng. Khí thuận (giáng) thì bình thường, Phế nghịch (đi lên) thì gây nên suyễn. Ngoài ra Tâm Phế suy yếu lâu ngày, Phế khí thiếu làm ảnh hưởng đến tim cũng gây ra suyễn. Tương ứng chứng bệnh Tâm Phế mạn của y học hiện đại
3. Do Tỳ phế hư yếu: Tỳ hư sinh đàm thấp thịnh ứ đọng tại phế gây tắc phế lạc. khí đạo không thông làm cho khó thở. Hoặc bệnh lâu ngày phế hư không chủ khí sinh khí nghịch khó thở. Thận chủ nạp khí, do bẩm sinh hoặc bệnh lâu ngày ảnh hưởng đến thận, thận không nạp được khi cũng sinh khó thở.
4. Do Đờm Trọc Nội Thịnh : Do ăn uống không điều độ hoặc bừa bãi làm ảnh hưởng đến công năng vận hoá của Tỳ, tích trệ lại thấp đờm. Trong thức ăn có những chất làm tổn thương tỳ vị, tỳ vận hoá kém, thuỷ cốc dễ sinh thấp đàm ứ đọng tại phế gây tắc phế lạc, phế khí bị trở ngại gây nên hen. Thường gặp ở những bệnh nhân tỳ hư, đàm thịnh. Hoặc người vốn có đờm thấp tích trệ đi ngược lên lên gây thành đờm, ủng trệ ở Phế, làm cho khí cơ và sự thăng giáng của Phế bị ngăn trở gây ra suyễn. Hoặc do Phế nhiệt nung nấu tân dịch thành đờm, đờm hoả gây trở ngại thành suyễn.

I – CHỮA HEN PHẾ QUẢN KHI CÓ CƠN HEN​

IA. Hen thể HEN HÀN
- Triệu chứng: Người lạnh, sắc mặt trắng bệch, đờm loãng có bọt dễ khạc, không khát, thích uống nước nóng, đại tiện nhão, chất lưỡi nhạt, rêu mỏng trắng, mạch huyền tế.
- Biện chứng: do cảm phải ngoại tà(trong đó tà khí là phong hàn thấp là cơ bản): Phong hàn phạm vào Phế khiến Phế khí bị ủng tắc thăng giáng thất thường, nghịch lên thành suyễn. Mặt khác thấp là âm tà thấp tác động dần vào tỳ vị làm mất công năng vận hoá của tỳ vị không phân thanh giáng trọc mà sinh đàm, đàm trở trệ phế sinh khó thở.
- Pháp: ôn phế tán hàn, trừ đàm, hạ xuyễn
- Phương dược
Bài 1: Xạ can thang gia giảm.
Ma hoàng 6g để thông dương khí ở biểu, phát hãn tuyên phế, bình xuyễn.
Sinh khương 4g, Tế tân 6g làm ôn phế hóa ẩm giúp ma hoàng phát hãn.
Tử uyển 12g, Khoản đông hoa 12g để giáng phế khí, tán phong hàn, bình xuyễn.
Ngũ vị 6g để liễm khí.
Cam thảo0 4g để giảm tính mãnh liệt của ma hoàng.
Bán hạ chế 8g để hóa đờm.
Sinh khương 4g, Đại táo 12g để hòa trung.
Xạ can 8g là thuốc thanh nhiệt giải độc vào kinh phế can tác dụng chữa ho và long đờm​
Bài 2. Tô tử 12g, hậu phác 8g, quất bì 8g, quế chi 8g, bán hạ chế 8g, ngải cứu 12g, đương quy 10g, gừng 4g, tiền hồ 10g, đại táo 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.
Bài 3. Tiểu thanh long thang.Ma hoàng 12, Quế chi 12, Bán hạ 12, Tế tân 6, Bạch thược 12, Can khương 12, Chích thảo 12, Ngũ vị tử 6.
- Châm bổ: thiên đột, chiên trung, phong môn, định xuyễn, liệt khuyết, tam âm giao, phong long, túc tam lý. Cứu: phế du, cao hoang, thận du. Nhĩ châm các huyệt bình xuyễn, tuyến thượng thận, giao cảm..

IB. Hen thể HEN NHIỆT
- Triệu chứng: Người bứt rứt, sợ nóng, môi đỏ, đờm vàng dính. Thích uống nước lạnh, đại tiện táo, lưỡi đỏ, rêu lưỡi dày, mạch hoạt sác.
- Biện chứng: Đờm trọc ủng tắc ở Phế, làm cho Phế khí không thông giáng xuống được gây ra đờm vàng dính. Đờm thấp ủng trệ ở Tỳ Vị gây ra người buồn bực. Đờm thấp uất trệ hóa hỏa nên bệnh nhân sợ nóng, môi đỏ, thích uống nước lanh, đại tiện táo. Rêu lưỡi vàng, lưỡi đỏ là dấu hiệu nhiệt ở thượng tiêu. Mạch Hoạt là biểu hiện của đờm trọc .
- Pháp: Thanh nhiệt, tuyên phế hóa đàm, bình xuyễn
- Phương dược :
Bài 1. Việt tỳ gia bán hạ thang gia giảm:
Ma hoàng 8g để thông dương khí ở biểu, phát hãn tuyên phế.
Sinh khương 4g giúp ma hoàng ôn trung tán hàn phát hãn.
Thạch cao 20g để thanh phế nhiệt sinh tân chỉ khát.
Bán hạ chế 6g để hóa đờm giáng nghịch,
Cam thảo 4g để ích khí hòa trung làm giảm tính mãnh liệt của ma hoàng,
Đại táo 12g để hòa trung.
Hạnh nhân 10g, tô tử 8g để giáng khí hóa đờm bình xuyễn.
Xạ can 10g là thuốc thanh nhiệt giải độc vào kinh phế can tác dụng chữa ho và long đờm.​
Bài 2. Định xuyễn thang gia giảm. Ma hoàng 8, Tang bạch bì 12, Hạnh nhân 8, Chế Bán hạ 8, Bạch quả ( sao) 15, Tô tử 8, Hoàng cầm 12, Khoản đông hoa 12, Cam thảo 4g, Qua lâu8, Đởm nam tinh8,Chỉ xác 12, Trúc nhự 8.
Bài 3. Ma hạnh thạch cam thang gia vị: Cam thảo 4g, Hạnh nhân 12g, Ma hoàng 12g, Thạch cao 40g. Thêm Trần bì, Bối mẫu, Tiền hồ, Cát cánh.
- Châm Tả: trung phủ, thiên đột, chiên trung, định xuyễn, phế du, xích trạch, thái uyên, phong long, hợp cốc. Nhĩ châm các huyệt bình xuyễn, tuyến thượng thận, giao cảm.

II – CHỮA HEN PHẾ QUẢN KHI HẾT CƠN HEN​
Y học cổ truyền chữa cơn hen phế quản khi hết cơn hen để tránh tái phát cơn hen hoặc có lên cơn hen nhưng cơn hen nhẹ, chu kỳ tái phát chậm người ta chữa về gốc bệnh đặc biệt là phục hồi công năng của các tạng Tỳ, Phế, Thận

IIA. PHẾ HƯ: chia làm 2 thể phế khí hư và phế âm hư
1. Phế khí hư
- Triệu chứng: Sợ lạnh, tự ra mồ hôi, ho thở ngắn gấp, đờm nhiều loãng, sắc mặt trắng vẻ mệt mỏi, tiếng nói nhỏ yếu, ngại nói, dễ cảm lạnh tái phát cơn hen, ngạt mũi, chảy nước mũi, chất lưỡi đạm, rêu mỏng trắng, mạch nhu hoãn vô lực.
- Biện chứng: Phế chủ khí, Phế hư vì vậy tiếng nói nhỏ yếu, ngại nói, hơi thở ngắn, gấp . Vệ khí không vững nên ngoại tà phong hàn xâm phạm vào phế vì vậy bệnh nhân sợ lạnh, tự hãn, dễ bị cảm lạnh và hay tái phát cơn hen, ngạt mũi, chảy nước mũi, rêu lưỡi trắng mỏng. Khí huyết hư yếu nên thấy mạch nhu hoãn vô lực, chất lưỡi đạm
- Pháp : Bổ phế cố biểu, ích khí định xuyễn
- Phương dược:
Bài 1. Ngọc bình tán gia thêm Tô tử
Hoàng kỳ 12g ích khí cố biểu là chủ dược.
Phòng phong 6g khu phong cố biểu.
Tô tử 12g giáng khí hóa đàm bình suyễn
Bạch truật 12g kiện tỳ​
Bài 2.Bổ trung ích khí gia giảm
- Cứu: phế du, tỳ du, thận du, quan nguyên, cao hoang, chiên trung
2. Phế âm hư
- Triệu chứng: Ho, thở gấp, ít đờm hoặc ko có đờm, sốt hâm hấp về chiều, miệng khô họng ráo, chất lưỡi đỏ ít rêu hoặc ko rêu, mạch tế sác
- Biện chứng: (Thường gặp ở người hen phế quản lâu ngày dẫn đến tình trạng khí phế thũng, chức năng hô hấp giảm). Bên trong đang có nhiệt lại cảm phải táo và nhiệt ở bên ngoài, hai thứ nhiệt nung đốt Phế, Phế bị nhiệt gây ra ho thở gấp, đờm ít hoặc ko có đờm, Âm hư sinh nội nhiệt, nhiệt trưng đốt tân dich nên miệng họng khô ráo, đại tiện táo, tiểu vàng. Lưỡi đỏ, ít rêu hoặc ko rêu, sốt về chiều, mạch nhanh nhỏ là biểu hiện của âm hư
- Pháp : Bổ phế cố biểu, ích khí định xuyễn
- Phương dược:
Bài 1. Sinh mạch tán gia giảm
( Đẳng sâm 16g, Sa sâm 12g, Mạch môn 12g, Ngọc trúc 8g, Ngũ vị tử 6g, Bối mẫu 12g )
Đảng sâm có tác dụng bổ ích khí sinh tân là chủ dược. Mạch môn dưỡng âm sinh tân đồng thời có tác dụng thanh phế. Ngũ vị tử có tác dụng liễm phế chỉ hãn . Nhiệt làm thương tổn đến âm gia Sa sâm. Bối mẫu hóa đàm chỉ khái. Ngọc trúc tư âm nhuận phế, sinh tân chỉ khát
Bài 2. Bổ phế thang: Tang bạch bì, Thục địa đều 60g, Nhân sâm, Tử uyển, Hoàng kỳ, Ngũ vị tử đều 30g.
- Châm bổ: phế du, tỳ du, thận du, quan nguyên, cao hoang, chiên trung

IIB. TỲ HƯ
- Triệu chứng: Ho đờm nhiều, sắc mặt vàng, mệt mỏi vô lực, bụng trướng, ăn kém, đại tiện loãng, ăn chất béo dễ đi ỉa lỏng, chất lưỡi đạm, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch hoãn tế vô lực
- Biện chứng: Do ăn uống làm việc quá sức hoặc lo nghĩ nhiều làm tỳ khí bị uất kết rối loạn công năng mà sinh ra đàm trở mà thành bệnh
- Pháp : Kiện tỳ ích khí hay ôn trung kiện tỳ
- Phương dược :
Bài 1. Lục quân tử thang gia giảm
( Đẳng sâm 16g, Cam thảo 6g, Bạch linh 12g, Trần bì 6g, Bạch truật 12g, Bán hạ chế 8g )
Đẳng sâm tính ngọt ôn kiện tỳ, ích khí dưỡng vị là chủ dược, Bạch truật đắng ôn kiện tỳ táo thấp, Bạch linh ngọt nhạt hợp với Bạch truật để kiẹn tỳ thẩm thấp. Cam thảo ngọt ôn bổ trung hòa vị, Bán hạ chế, trần bì táo thấp hóa đàm.
Bài 2. Lục quân tử thang + Nhị trần thang gia vị.
- Cứu : Tỳ du, vị du, phế du, thận du, quan nguyên, túc tam lý

IIC. THẬN HƯ : do thận dương hư hay thận âm hư ko nạp được khí
1. Thận dương hư
- Triệu chứng : Hơi thở ngắn gấp, lao động càng tăng. Sắc mặt trắng, ho có đờm bọt, hồi hộp, lưng gối mềm yếu, nước tiểu trong dài, tiểu nhiều lần, chất lưỡi đạm rêu trắng nhuận, mạch trầm tế vô lực
- Biện chứng: Do thận âm hay thận dương hư làm suy giảm chức năng nạp khí của tạng thận. Thận là gốc của khí, thận yếu không thu nạp được khí vì vậy sinh ra hồi hộp thở ngắn gấp, càng lao động càng tăng thận dương không đủ không có gì sưởi ấm cho da thịt cho nên sợ lạnh, sắc mặt trắng bệch. Thủy ẩm nghịch lên hại vào phế thì ho xuyễn, ho có đờm. Eo lưng là phủ của thận, thận lại chủ về xương, thận dương hư cho nên lưng gối lạnh mỏi yếu. Thận dương thiếu, thủy dịch không có gì để ôn hoá chế nước, chuyển xuống dưới cho nên nước tiểu trong dài, tiểu nhiều lần, Lưỡi đạm, rêu trắng nhuận, mạch Trầm Tế vô lực là biểu hiện của Thận hư, dương khí suy.
- Pháp : Ôn thận nạp khí.
- Phương dược:
Bài 1. Bát vị quế phụ
( Thục địa 12g, Đan bì 6g, Hoài sơn 12g, Trạch tả 6g, Sơn thù 8g, Phục linh 8g, Nhục quế 4g, Phụ tử chế 12g )
Bài Lục vị → tư bổ thận âm.
Nhục quế, Phụ tử chế→ ôn bổ thận dương.
Bài 2: Hữu quy ẩm ( phụ tử, quế nhục, thục địa, hoài sơn, sơn thù, câu kỷ tử, đỗ trọng, cam thảo).
- Cứu : Quan nguyên, khí hải, phế du, thận du, chiên trung, mệnh môn
2. Thận âm hư
- Triệu chứng: Hơi thở gấp, ho có đờm bọt, lưng gối mềm yếu, hồi hộp, hoa mắt chóng mặt, ù tai, miệng khô họng khát, lòng bàn tay bàn chân nóng, đại tiện táo, nước tiểu vàng, chất lưỡi đỏ ít rêu hoặc ko rêu, mạch tế sác
- Biện chứng: Do thận âm hay thận dương hư làm suy giảm chức năng nạp khí của tạng thận.Thận là gốc của khí, thận yếu không thu nạp được khí vì vậy hơi thở ngắn gấp, ho có đờm, hồi hộp. Âm dịch tổn ở dưới, cốt tuỷ trống rỗng, cho nên lưng gối mỏi yếu. Hoả ở can thận không được ghìm xuống, phù dương bốc lên thì hoa mắt chóng mặt, ù tai. Âm dịch đã suy hao cho nên miệng họng khô, đại tiện táo, tiểu vàng, lòng bàn tay bàn chân nóng. Lưỡi đỏ khô ít rêu , mạch tế sác là âm dịch hư thiếu, trong có hư nhiệt.
- Pháp : Tư âm bổ thận.
- Phương : Lục vị địa hoàng hoàn
( Thục địa 12g, Đan bì 6g, Hoài sơn 12g, Trạch tả 6g, Sơn thù 8g, Phục linh 8g, Mạch môn 12g, Ngũ vị tử 6g )
Bài thuốc lục vị tư bổ thận âm. Mạch môn dưỡng âm sinh tân đồng thời có tác dụng thanh phế. Ngũ vị tử có tác dụng liễm phế chỉ hãn
- Châm : Quan nguyên, khí hải, phế du, thận du, mệnh môn, chiên trung, túc tam lý, tam âm giao
Edited by huutuanbmt, Jan 5 2017, 10:31 PM.
Offline Profile Quote Post Goto Top
 
1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous)
« Previous Topic · Y Học Cổ Truyền & Vật Lý Trị Liệu · Next Topic »
Add Reply

tuan.eakaoSuport Online Tuan.EakaoSuport Online