| Thông điệp: |
| MỘT CÁI QUƠ TAY CŨNG THUỘC VỀ QUÁ KHỨ. HẪY BẮT ĐẦU NGAY HÔM NAY VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ CHÚNG TA CÙNG TẠO NHỮNG QUÁ KHỨ , TƯƠNG LAI THẬT ĐẸP VỚI NHAU NHÉ. »»--(¯`° DIỄN ĐÀN Y KHOA ĐĂK LĂK°´¯)--»» Trước tiên BQT xin gửi lời chào đến tấc cả các bạn.Cảm ơn các bạn đã dành chút thời gian để tham gia, học hỏi, trao đổi kiến thức và xin chúc các bạn có một ngày may mắn, và nhiều vui vẻ. Diễn đàn y khoa ra đời vì mục đích giao lưu, kết bạn, học hỏi, quan tâm, chia sẽ và giúp đỡ bằng tận đáy lòng mình, mà nhất là luôn duy trì trên tinh thần học hỏi để tình cảm ấy dù ngày tháng có trôi qua. Tuổi già răng rụng tóc bạc, vẩn luôn nhớ đến nhau .^_^. hãy giúp chúng tôi xây dựng diễn đàn y khoa phát triển để làm cầu nối với nhau. Sử dụng firefox để đăng nhập dễ dàng hơn ! nếu có thắc mắc xin liên hệ trực tiếp Facbook: https://www.facebook.com/DienDanYKhoaDL forum: http://ykhoadl.tk Email: nguyenhuutuanbmt@gmail.com SĐT : - 0979464642 Thay mặt diễn đàn xin chân thành cảm ơn!!! |
| Liệt 7 Ngoại Biên ( Khẩu Nhãn Oa Tà ) | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: Jan 5 2017, 10:32 PM (25 Views) | |
huutuanbmt
|
Jan 5 2017, 10:32 PM Post #1 |
|
KHẨU NHÃN OA TÀ [IMG] - Liệt mặt là hiện tượng mất hoặc giảm vận động nữa mặt của những cơ bám da ở mặt do dây VII chi phối . Là bệnh thường gặp, do nhiều nguyên nhân gây ra: do lạnh, viêm nhiễm, sang chấn sau mổ, chấn thương vỡ xương đá,... Bệnh ảnh hưởng nhiều đến thẩm mỹ. - Y học cổ truyền có tên là “Khẩu nhãn oa tà”, “Khẩu tịch”, “Điếu tuyến phong”… Nguyên nhân do phong hàn, phong nhiệt xâm nhập và huyết ứ ở các kinh Dương ở mặt làm cho sự lưu thông của kinh khí mất bình thường, khí huyết không điều hòa, kinh cân thiếu dinh dưỡng không co lại được gây bệnh biểu hiện bằng các dấu hiệu miệng méo, mắt nhắm không kín, nếp nhǎn tự nhiên mờ hoặc mất, không thổi sáo, thổi lửa được ǎn vãi, chảy nước mắt, giảm vị giác điều trị bằng phương pháp Y học cổ truyền có kết quả cao. A - Thể phong hàn: Triệu chứng: Sau khi gặp mưa, gió lạnh, tự nhiên thấy: Miệng méo, mắt nhắm không kín, uống nước trào ra, không huýt sáo được, nhân trung lệch sang bên lành, mất nếp nhăn trên trán, rãnh mũi má bên liệt mờ, toàn thân có hiện tượng sợ gió lạnh, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù.... Nguyên nhân: Do phong hàn xâm nhâp vào các kinh Dương ở mặt làm cho sự lưu thông của kinh khí mất bình thường, khí huyết không điều hòa, kinh cân thiếu dinh dưỡng không co lại được gây bệnh. Pháp điều trị: Khu phong, tán hàn, thông kinh hoạt lạc Phương dược : ĐẠI TẦN GIAO THANG GIA GIẢM Tần giao 08g Đương quy 08g Bạch thược 08g Xuyên khung 08g Thục địa 12g Bạch truật 12g Phục linh 08g Hoàng cầm 08g Bạch chỉ 08g Độc hoạt 08g. Khương hoạt 08g Cam thảo 06g Ngưu tất 12g Phương huyệt: Châm tả, ôn châm hoặc cứu: Toản trúc xuyên Tình minh, Ty trúc không, Dương bạch xuyên Ngư yêu, Thừa khấp, Đồng tử liêu, Nghinh hương, Địa thương xuyên Giáp xa, Nhân trung, Thừa tương, Quyền liêu, Ế phong, Hợp cốc. Liệu trình: Mỗi ngày hoặc cách ngày châm 1 lần từ 20-30 phút. Đợt điều trị 7-10 ngày nếu chưa khỏi nghỉ 2-3 ngày lại châm đợt khác kết hợp xoa bóp, thủy châm Vitamin B12 vào các huyệt trên B - Thể phong nhiệt: Bệnh thường phát sau Viêm tai giữa cấp hoặc mạn tính, Viêm tai xương chũm mạn tính, Zona thành ống tai,… Triệu chứng ở mặt: Miệng méo, mắt nhắm không kín, uống nước trào ra, không huýt sáo được, nhân trung lệch sang bên lành, mất nếp nhăn trên trán, rãnh mũi má bên liệt mờ. Toàn thân sợ gió, sợ nóng, có thể có sốt, rêu lưỡi trắng dày, mạch phù sác. Nguyên nhân: Do phong nhiệt xâm nhập vào các kinh Dương ở mặt làm cho sự lưu thông của kinh khí mất bình thường, khí huyết không điều hòa, kinh cân thiếu dinh dưỡng không co lại được gây bệnh. Pháp điều trị: Khu phong, thanh nhiệt, thông kinh hoạt lạc. Phương dược : ĐỐI PHÁP LẬP PHƯƠNG Kim ngân hoa 16g Ké đầu ngựa 12g Bồ công anh 16g Xuyên khung 12g Thổ phục linh 12g Đan sâm 12g Ngưu tất 12g Trần bì 8g Phương huyệt: Châm tả Toản trúc xuyên Tình minh, Ty trúc không, Dương bạch xuyên Ngư yêu, Thừa khấp, Đồng tử liêu, Nghinh hương, Địa thương xuyên Giáp xa, Nhân trung, Thừa tương, Quyền liêu, Ế phong, Hợp cốc, Khúc trì, Nội đình. Liệu trình:Mỗi ngày hoặc cách ngày châm 1 lần từ 20-30 phút. Đợt điều trị 7-10 ngày nếu chưa khỏi nghỉ 2-3 ngày lại châm đợt khác kết hợp xoa bóp, thủy châm Vitamin B12 vào các huyệt trên C - Thể huyết ứ (Liệt thần kinh VII ngoại biên do sang chấn) Triệu chứng: Miệng méo, mắt nhắm không kín, uống nước trào ra, không huýt sáo được, nhân trung lệch sang bên lành, mất nếp nhăn trên trán, rãnh mũi má bên liệt mờ. Lưỡi có thể có điểm ứ huyết, mạch sáp,.... Nguyên nhân: Do huyết ứ ở các kinh Dương ở mặt làm cho sự lưu thông của kinh khí mất bình thường, khí huyết không điều hòa, kinh cân thiếu dinh dưỡng không co lại được gây bệnh. Pháp điều trị: Hoạt huyết hóa ứ, thông kinh lạc Phương dược : TỨ VẬT ĐÀO HỒNG GIA GIẢM Xuyên khung 12g Đương quy 12g Bạch thược 12g Đào nhân 10g Hồng hoa 8g Đan sâm 12g Ngưu tất 12g Tô mộc 8g Uất kim 8g Trần bì 6g Chỉ xác 6g Hương phụ 6g Phương huyệt: Châm tả Toản trúc xuyên Tình minh, Ty trúc không, Dương bạch xuyên Ngư yêu, Thừa khấp, Đồng tử liêu, Nghinh hương, Địa thương xuyên Giáp xa, Nhân trung, Thừa tương, Quyền liêu, Ế phong, Hợp cốc. Châm thêm Huyết hải, Túc tam lý. Liệu trình: Mỗi ngày hoặc cách ngày châm 1 lần từ 20-30 phút. Đợt điều trị 7-10 ngày nếu chưa khỏi nghỉ 2-3 ngày lại châm đợt khác kết hợp xoa bóp, thủy châm Vitamin B12 vào các huyệt trên D - Giới thiệu thêm một số phương pháp châm cứu đã qua thực nghiệm đạt được hiệu quả cao trong điều trị Liệt VII ngoại biên : Các huyệt tại chỗ chủ yếu để điều hòa kinh khí các kinh ở mặt bị bệnh. Hợp cốc điều hòa kinh khí của kinh Dương minh. Huyết hải hoạt huyết hóa ứ, Túc tam lý bổ khí giúp hoạt huyết hóa ứ. Ở Trung Quốc, trong vài chục nǎm gần đây, chỉ tính riêng việc sử dụng các kỹ thuật châm và cứu để giải quyết cǎn bệnh này đã có đến hơn 100 công trình nghiên cứu khác nhau. Dưới đây xin được giới thiệu một số kinh nghiệm đặc sắc của các nhà châm cứu nước bạn, chủ yếu là các kỹ thuật thể châm, để độc giả có thể tham khảo và vận dụng trong nghiên cứu và điều trị. [IMG] 1 . Mã Thụy Lâm (1981) chọn dùng các huyệt tại chỗ và lân cận gồm dương bạch, đồng tử liệu, phong trì, tứ bạch, giáp xa, địa thương, hạ quan, nghênh hương, quyền liêu, ngư yêu, nhân trung, thừa tương, hòa liêu (chọn châm mỗi lần 3 – 4 huyệt) và các huyệt ở xa gồm hợp cốc, chi câu, túc tam lý. Các huyệt cục bộ dùng bổ pháp, các huyệt ở xa dùng tả pháp. Trị liệu 1 195 ca đạt hiệu quả 99,4%. khỏi hoàn toàn 80,7%. Viên Thanh Thuận (1 987) đã thực hiện phương pháp lấy huyệt kết hợp cục bộ và toàn thân. Các huyệt cục bộ gồm : giáp xa, địa phương (hai bên), cự khuyết, thừa khấp, ngư yêu, tứ bạch (bên bệnh). Các huyệt toàn thân gồm thái xung, hợp cốc. Thủ pháp châm : huyệt cục bộ châm xuyên huyệt, ngược chiều với hướng lệch của miệng ; giáp xa xuyên địa phương (bên lành), châm bổ, địa phương xuyên giáp xa, cự khuyết xuyên thừa khấp, ngư yếu xuyên dương bạch (bên bệnh), châm tả ; châm bình bổ bình tả thái xung và hợp cốc. Hiệu quả trị liệu đạt 96%, trong đó khỏi hoàn toàn 84%. 2. Tân Tuyên Anh (1982) sử dụng 2 nhóm huyệt, nhóm 1 : dương bạch xuyên ngư yêu, địa thương xuyên giáp xa, ế phong, nghênh hương, hợp cốc ; nhóm 2 : toàn trúc, tình minh, cự khuyết xuyên thừa khấp, phong trì, dương lǎng tuyền. Thao tác : châm 2 nhóm thay thế nhau, lưu kim 15 phút, mỗi ngày 1 lần, 7 lần là 1 liệu trình, giữa 2 liệu trình nghỉ 3 ngày. Trị liệu 413 ca, đạt hiệu quả 99,7%, khỏe hoàn toàn 97,3%. 3. Kim Bá Hoa (1986) dùng ế phong làm chủ huyệt phối hợp với giáp xa, địa thương, nhân trung, thừa tương, toàn trúc. tứ bạch, hợp cốc và túc tam lý. Thao tác : châm ế phong hướng mũi kim về phía chóp mũi, tiến kim từ từ sâu khoảng 1 ,5 thốn sao cho có cảm giác tê tức, chướng nóng lan ra mặt là đạt (tả pháp); các huyệt khác châm bình bổ bình tả. Mỗi ngày châm 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Đạt hiệu quả 100%. 4. Lữ Cǎn Vinh (1986) chọn dùng các huyệt địa thương, giáp xa, quyền liêu, phong trì, dương bạch, hợp cốc, túc tam lý. Thao tác: châm địa thương xuyên giáp xa, quyền liêu xuyên địa thương, thái dương xuyên giáp xa, dương bạch xuyên ngư yêu. Các huyệt khác đều châm thẳng, lưu kim 30 phút, vê kim 3 – 5 lần. Hiệu quả trị liệu 100%. 5. Mục Thục Khôn (1989) châm dương bạch xuyên ngư yêu, dương bạch xuyên toàn trúc, giáp xa xuyên địa phương, thái dương xuyên ty trúc không, tứ bạch xuyên nghênh hương, cự khuyết xuyên thừa khấp, ế phong và hợp cốc. Gia giảm, đau đầu châm đầu duy, phong trì, bách hội ; mắt nhắm không kín châm tình minh, đồng tử liêu. Hiệu quả điều trị đạt 98,7%, trong đó khỏi hoàn toàn 93,2%. 6. Giang Sơn (1989) đã sử dụng một huyệt kinh nghiệm làm chủ huyệt, vị trí : ở điểm nối giữa 1/3 trong và 2/3 ngoài đường nối hai huyệt địa phương và giáp xa. Các huyệt phối hợp tùy theo bệnh tình cụ thể mà lựa chọn từ 1 – 2 huyệt : nếu bệnh khởi phát trong vòng 1 tuần chọn phong trì, thái dương, ế phong, hợp cốc, túc tam lý ; nếu bệnh khởi phát trong vòng 2 tuần đến 1 tháng chọn ế phong (hoặc khiên chính), đầu duy xuyên huyền ly, ngoại quan, hợp cốc thái xung, túc tam lý ; nếu bệnh khởi phát trên 1 tháng chọn tình minh, nghênh hương, thiên dung, liệt khuyết, chiếu hai, thái xung, túc tam lý. Thao tác kỹ thuật : dùng kim hào châm dài 2 thốn châm nghiêng 15o Xuyên tới huyệt hạ quan, vừa tiến kim vừa vê nhẹ nhàng sao cho cảm giác tê tức lan ra má, mắt, miệng, mũi và sau tai là đạt, lưu kim 15 – 30 phút các huyệt phối hợp châm tả nếu do phong nhiệt, châm bổ nếu do phong hàn. Trị liệu 713 ca đạt hiệu quả 100%, 75% khỏi hoàn toàn. 7. Ngải Hồng Thọ (1989) sử dụng địa thương và khiên chính làm chủ huyệt phối hợp với hợp cốc, lao cung. Thao tác: châm kim từ địa thương xuyên tới khiên chính, vê nhanh và lắc kim để đạt đắc khí, không lưu kim. Sau đó, châm tiếp hợp cốc xuyên lao cung, kích thích mạnh, không lưu kim. Trị liệu 100 ca, trong đó có 76 ca mới bị chỉ châm 1 lần đã khỏi 53 ca, đỡ nhiều 18 ca, đỡ ít 5 ca, 24 ca bị bệnh kéo dài 3 – 7 tháng sau khi châm 1 lần khỏi 3 ca, đỡ nhiều 12 ca, đỡ ít 7 ca, không đỡ 2 ca. 8. Quan Nhàn Thanh (1 990) dùng phương pháp “bốn kim tám huyệt” gồm dương bạch xuyên ngư yêu, tứ bạch xuyên nghênh hương, nghênh hương xuyên tình minh, địa thương xuyên giáp xa, phối hợp thêm hợp cốc. Gia giảm : đau và ù tai gia ế phong, đau mỏi cổ gia phong trì, đau nửa đầu gia thái dương. Chọn dùng kim hào châm số 28 dài 2 thốn ; bệnh nặng, mắc lâu ngày, thể trạng suy nhược “dĩ hư giả bổ chi”; bệnh nhẹ, mới mắc, thể trạng tốt “dĩ thực giả tả chi”. Trị liệu 1 170 ca đạt hiệu quả 99,8%, khỏi hoàn toàn 80,9%. 9 . Đỗ Thiếu Hoa (1991) châm bình bổ bình tả hữu thái dương, phong trì, ế phong, khiên chính, liệt mặt thượng (ở ngoài huyệt thái dương 5 phân), liệt mặt hạ (trung điềm đường nối địa thương và giáp xa), dương bạch xuyên ngư yêu, địa phương xuyên giáp xa, nghênh hương, tả hợp cốc, lưu kim 30 phút, mỗi ngày châm 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. 10. Vương Hiếu Lợi (1991) chỉ châm huyệt phong long. Thao tác: người bệnh nằm, dùng kim hào châm dài 3,5 thốn châm nhanh qua da tiến sâu 3 thốn, khi đắc khí thì vê nhẹ, lưu kim 30 phút. Trị liệu 102 ca đạt hiệu quả 98%, khỏi hoàn toàn 75,5%. 11. Vương Minh Minh (1992) dùng các huyệt khuyết bền, ế phong, giáp xa, địa phương, hạ quan, tứ bạch. Khuyết bồn châm thẳng hoặc chếch sâu 0,3 – 0 5 thốn, các huyệt khác châm bình bổ bình tả. Trị liệu 80 ca, khỏi 72 ca, đạt hiệu quả 97,5%. Châm cách nhiệt, 7 lần là 1 liệu trình. 12. Vương Dân Tập (1993) chọn dùng các chủ huyệt : dương bạch, toàn trúc, tự trúc không, tứ bạch, hạ quan, địa phương, giáp xa, hợp cốc và các phối huyệt : ế phong và hoàn cốt khi có đau và ù tai, phong trì khi đau cứng cổ gáy, trung chữ khi đau đầu và chóng mặt, túc tam lý khi bệnh lâu thể trạng suy nhược. Thủ pháp : châm địa phương và giáp xa bên liệt hướng xuyên lẫn nhau, châm dương bạch, toàn trúc và ty trúc không xuyên tới ngư yêu, châm tứ bạch nghiêng kim 15o Xuyên tới địa thương ; châm tả, lưu kim 30 phút, vê kim 2 lần, bệnh mới châm hàng này, 10 ngày là 1 liệu trình, bệnh cũ châm bổ cách nhật. Hiệu quả trị liệu đạt 98,6%, khỏi hoàn toàn 80,1%. 13 . Hoàng Trí Hoa (1995) chọn ế phong làm chủ huyệt phối hợp với hạ quan, địa thương, thừa tương, nhân trung, giáp xa, hợp cốc và túc tam lý. Thao tác: trước hết day xoa ế phong cho nóng lên rồi châm, nếu bị liệt bên trái thì hướng mũi kim về phía huyệt khiên chính bên phải và ngược lại. Trị liệu 36 ca đạt hiệu quả 100%, khỏi hoàn toàn 72,2%. Như vậy có thể thấy, chỉ riêng về phương diện sừ dụng thể châm điều trị liệt mặt, kinh nghiệm của các tác giả Trung Quốc đã hết sức phong phú. Đó là chưa kể đến các phương pháp khác như cứu, thủy châm, điện châm, laser châm, từ châm, dán thuốc trên huyệt… hoặc phối hợp giữa các phương pháp |
|
|
| 1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous) | |
| « Previous Topic · Y Học Cổ Truyền & Vật Lý Trị Liệu · Next Topic » |


huutuanbmt


7:24 AM Jul 11